Translate

Thứ Tư, 6 tháng 4, 2016

Đây là một bài thơ mà tôi tình cờ đọc được.

Xin hãy là người đến sau
Để cảm nhận nỗi đau của người đến trước
Còn hơn đã là người đến trước
Nhưng phải nhường bước cho người đến sau

Thứ Năm, 6 tháng 11, 2014

Bàn thêm về Vô thức

Khi luyện tập về rung động vô thức trị liệu, các cảm nhận về năng lượng trong cơ thể tuần tự xuất hiện như: nặng nề, nhẹ nhàng, nóng, lạnh, đau nhức lâm râm, kiến bò, cảm giác mất trọng lực hay cảm tưởng như bị té ngả, sóng rung động không theo ý muốn trong lúc cơ thể chúng ta chuyển động vô thức. Ta không để mất ý thức khi vào vô thức để rung động thư giãn và có thể lắng nghe chính mình. Khi rung động mạnh dần lên, khi ta để nó luân chuyển theo sự kích thích của rung động thì ta có thể thấy con người thật của chính mình. 
Vậy Vô thức là gì?.
Cuối thế kỷ 19, Sigmund Freud (1856-1939), đã đưa ra một phạm trù tư tưởng, một hệ thống phương pháp luận mới về vô thức. Tiền đề vô thức của ông đã thay đổi nhận thức của con người trên chiều hướng tự biết về chính mình. Ông là nhà khoa học mà tên tuổi của ông được đặt bên cạnh những tên tuổi vĩ đại khác như Acsimet, Galile, Isaac Niuton, Anbe Anhstanh. Công lao to lớn của ông là sáng tạo ra học thuyết Phân tâm (Psychoanalysis). Đây là khám phá ra vô thức(unconscious) như một tầng tư duy nền tảng, định hình, định hướng cho mọi hành vi của con người.
Học thuyết Freud có tác động và ảnh hưởng sâu rộng đến rất nhiều lĩnh vực khoa học khác nhau của thế giới ngày nay như tâm lý học, y học, triết học, xã hội học, tội phạm học, văn học nghệ thuật, tôn giáo, giáo dục...Khám phá của Freud được coi là một cuộc cách mạng trong nhận thức về bản chất hành vi con người, khi mà trước đó, người ta vẫn đề cao ý thức và coi ý thức như phần tư duy chủ yếu của con người. Khám phá này đã đem ánh sáng ý thức khai thông những khái niệm của ý chí và động cơ, để điều chỉnh và giải thích những hiện tượng tâm thần tiêu cực cho con người Tây phương. Nói như vậy là vì ở phương Đông, từ rất lâu rồi, Phật giáo cũng đã có một hệ thống phân tâm học đồ sộ với một nền tảng bản thể luận và siêu hình học. Đối với Tây phương thì huyền thoại vô thức đã cống hiến một tri thức luận mới. Thay vì ý thức quyết định sự hữu của con người với công thức của Descartes, thì đối với Freud, vô thức là nền tảng cho ý thức và cái tôi của cá nhân. Trong khi, trước đó, tri thức được Descartes coi là thể thống nhất. Theo Freud, tri thức là một căn nhà bị chia hai: tầng trên của ý thức và tầng dưới vẫn còn đang nằm trong bóng tối. Ý thức chỉ là một tảng băng nổi trên mặt biển - và vô thức là phần ở dưới nước không thấy được. Phần chìm này rất lớn và quyết định tất cả những sinh hoạt và nội dung ý thức. Nó chứa những năng lực với khả năng kiểm soát, với tên gọi là năng lực tính dục, có đặc trưng là muốn thoả mãn bằng mọi phương diện và mọi giá. Với tiền đề vô thức và động cơ tính dục, Freud giải thích được tất cả hiện tượng ý chí, suy tưởng, tâm lý, ham muốn và ý chí hành động - kể cả việc giải thích các giấc mơ.

Những luận thuyết cơ bản của phân tâm học gồm:
1. Hành vi, kinh nghiệm và nhận thức của con người phần lớn được định hình bởi các xung năng bẩm sinh.
2. Những xung năng này mang bản chất vô thức.
3. Qúa trình cố đưa những xung năng này "trồi" lên bề mặt ý thức sẽ gây ra những kháng cự tâm lý, được biểu hiện qua các cơ chế phòng vệ.
4. Bên cạnh những cấu trúc tâm thần mang tính bẩm sinh đó, sự phát triển của một cá nhân còn được định hình bởi những sự kiện thuở ấu thời.
5. Những xung đột giữa ý thức về thực tại với phần vô thức của hệ tâm thần (tạo nên sự dồn nén) có thể là nguồn gốc của những chứng rối nhiễu tâm trí như chứng nhiễu tâm, lo âu, trầm uất, v.v...
6. Phương thức để giải trừ những ảnh hưởng này từ bằng vô thức là đưa các nội dung đó lên bình diện ý thức.
Freud chia bộ máy tư duy của con người theo ba lát cắt khác nhau: Vô thức (unconscius), tiền ý thức (preconscius) và ý thức (conscius). Ý thức là phần tinh thần liên hệ trực tiếp với thế giới bên ngoài. Tiền ý thức là phần tinh thần đi ra từ vô thức nhưng chưa đến được ý thức và do đó chưa trở thành ý thức. Vô thức tách rời hẳn ý thức, nằm sâu trong kết cấu tâm lý con người. Vô thức là nơi tàng trữ các bản năng với bản năng dục vọng là cốt lõi. Những bản năng này chất chứa những năng lượng tâm lý hết sức mãnh liệt, phục tùng nguyên tắc khoái lạc, luôn hướng ra ngoài để tìm cách thể hiện, muốn tiến vào ý thức để được thoả mãn. Có thể coi bộ máy tư duy của con người như một tảng băng trôi, phần nổi nhìn thấy được trên mặt nước là ý thức, chỉ chiếm một phần rất nhỏ của tảng băng; phần chìm dưới nước không nhìn thấy được chiếm phần vô cùng lớn của tảng băng là vô thức ; phần rất nhỏ nằm giáp ranh giữa vô thức và ý thức và vẫn chìm dưới nước là tiền ý thức. Sơ đồ lát cắt của Freud đã xác định rõ vị trí và vai trò của vô thức, tiền ý thức, ý thức trong bộ máy tư duy con người. Học trò của ông - Anthony A.Walsh- đã đưa ra sơ đồ mô hình cấu trúc của thể hiện các phạm trù mà Freud đã nêu ra trong học thuyết của mình gồm 3 thành phần quan trọng là: cái ấy (id), cái tôi (ego), cái siêu tôi(superego).

- Cái ấy (id): Nằm hoàn toàn trong vô thức, nó là phần dưới nước của tảng băng trôi. Cái ấy là thành phần sinh học (biological component) của tư duy. Nó là bản năng tính dục, có ngay từ lúc mới sinh, là năng lượng nguyên thủy của sự sống, Các hành động của nó đều dựa trên nguyên tắc khoái lạc (pleasure principle). Cái ấy tượng trưng cho phần vô thức và thể hiện sự chống đối xã hội của cá nhân. Theo Freud, phạm vi của cái ấy trong vô thức là phần nhân cách tối tăm, không thể đi đến được, nó rất mù quáng và độc ác. Mục đích độc nhất của nó là thỏa mãn các ham muốn bản năng và các khoái cảm trong con người mà không cần biết đến các hậu quả. Nói theo Thomas Mann thì “Nó không biết gì đến giá trị, thiện hay ác và cả đạo đức nữa”. 
- Cái tôi (Ego): Nằm ở trên cái ấy, bao hàm cả ý thức, tiền ý thức và một phần vô thức, nó nằm ở phần nổi và một phần chìm của tảng băng trôi, cái tôi là thành phần tâm lý (psychological component) của bộ máy tư duy. Cái tôi, thể hiện cá tính tâm lý của mỗi con người. Cái tôi còn thể hiện trong hoạt động ý thức như tri giác, ngôn ngữ và những hoạt động trí tuệ cho phép kiểm soát kiềm chế hành vi cá nhân trong quan hệ với ngoại cảnh. Cái tôi có thể kìm nén xung đột của cái ấy và kiềm chế khoái lạc. Cái tôi nhận biết được thế giới xung quanh và nhận ra rằng phải kìm hãm những khuynh hướng sai lệch của cái tôi, để ngăn ngừa mọi xung đột với luật lệ xã hội. Như vậy, cái tôi vượt khỏi sự thống nhất sinh vật của thân xác để đạt tới một sự thống nhất cao hơn là sự tự chủ. Cái tôi tượng trưng cho phần ý thức và ý chí của cá nhân.
- Cái siêu tôi (superego): Nằm trong cả ba lát cắt vô thức, tiền ý thức và ý thức, nó nằm cả trong phần chìm và phần nổi của tảng băng trôi. Cái siêu tôi là thành phần xã hội (social component) của bộ máy tư duy. Cái siêu tôi được xem là sự học hỏi của cá nhân về các giá trị và quy tắc xã hội. Nó được coi là mặt lương tâm, đạo đức của cá nhân và cái tôi lý tưởng (ego-ideal). Cái siêu tôi đấu tranh để cho các hành vi được hoàn thiện bằng cách xác định giá trị hành vi hoặc tỏ thái độ đối với hành vi là đúng hay sai. Cái siêu tôi chứa tất cả các tiêu chuẩn đạo đức tiếp nhận được từ cha mẹ và xã hội. Các siêu tôi buộc cái tôi phù hợp không chỉ về thực tế mà còn về lý tưởng của mình về đạo đức. Do đó, cái siêu tôi khiến người ta cảm thấy tội lỗi khi họ đi ngược lại quy tắc của xã hội.
Từ các phạm trù vô thức, tiền ý thức, ý thức, cái ấy, cái tôi, cái siêu tôi, eros và thanatos trong mô hình lát cắt bộ máy tư duy con người của Freud, chúng ta có thể lý giải được rất nhiều nguồn gốc, bản chất sâu xa và động cơ dẫn đến hành vi của con người.
Tác dụng của việc vào được vô thức
Phân tâm học cổ điển của Freud là một phương pháp trị liệu đặc thù, mà người được phân tích (bệnh nhân) sẽ nói ra những ý nghĩ của mình, qua những liên tưởng tự do, những huyễn tưởng và các giấc mơ, từ đó nhà phân tâm sẽ rút ra kết luận về những xung đột vô thức là nguồn gốc đang gây ra các triệu chứng và biểu hiện đặc trưng ở những bệnh nhân, rồi diễn giải chúng cho họ bừng hiểu để từ đó có giải pháp cho những vấn đề của mình. Điểm đặc trưng của liệu pháp phân tâm là phân tách rõ các cơ chế phòng vệ, những ước muốn và cảm giác tội lỗi mang tính bệnh lý của bệnh nhân. 
Theo GS.TSKH Đoàn Xuân Mượu, nguyên viện trưởng Viện Văcxin, tác giả cuốn sách "khoa học và vấn đề tâm linh" thì, để gặp lại người thân đã chết, cách duy nhất người sống có thể làm là tìm ra con đường tiếp cận với cõi vô thức của mình. 
Bằng cách tập luyện trong vô thức kết hợp với lắng nghe chính mình, Ta sẽ phát hiện được những nhược điểm của mình và biết mình phải làm gì để tu tâm dưỡng tính, trở thành con người hoàn thiện. Nói ngắn gọn là tập luyện trong vô thức và lắng nghe chính mình là để dùng "cái ấy" (id), "cái tôi" (ego)để tạo ra "Cái siêu tôi" (superego) tốt hơn.

Thứ Tư, 24 tháng 9, 2014

Cuộc sống và những con người hoàn thiện

Con người hoàn thiện là những con người không có bệnh tật gì. Là một con người mà ai ai cũng yêu mến và quí trọng. Con người hoàn thiện là con người luôn luôn hướng thiện, hướng tới những điều tốt đẹp. Con người hoàn thiện là con người biết sẻ chia và thương cảm cho nỗi khổ và niềm đau của mọi người, sống biết SÁM HỐI khi mắc lỗi lầm. Tâm THIỆN, CHÍ cao hay THIỆN LÀNH và CHÍ LÀNH là đặc trưng của CON NGƯỜI HOÀN THIỆN. Con người hoàn thiện thật sự yêu thương bằng HÀNH ĐỘNG, NIỀM VUI và NỤ CƯỜI.
Sau đây là một ý kiến cảm nhận về cuộc sống và những Con người hoàn thiện của tôi:
Trời cho Tinh Khí Thần
Mẹ cho Thân Khẩu Ý
Ta sống trong chữ Mệnh
Bệnh sinh bởi thói quen

Tiên thiên bởi Mẹ cha
Hậu thiên hàng ngày lấy
Ai trong khắp quanh ta
Cũng mong mình hoàn thiện

Ẩn mình hay đối diện
Nhân quả là thước đo
Những gì còn hay mất
Do Thiêng liêng lấy, cho.

Người hiểu biết phải lo
Tương lai nào đối diện
Lấy chữ đức làm đầu
Chí lành và chí thiện


Thứ Năm, 28 tháng 8, 2014

Thư yểm

Từ ngàn xưa, bùa chú đã xuất hiện ngay cả trong những kinh sách của nhiều tôn giáo. Phần lớn các bùa chú này nhằm mục đích để cầu an, giúp cho thân tâm, gia đình yên ổn. Ngoài ra nhiều bùa chú còn giúp để trị bệnh, trừ tà, phá bùa yếm đối. Thư và yểm là nghi thức điều động quyền lực siêu nhiên vào việc hãm hại người bằng bùa chú. Thư có tác dụng gây bệnh tật, hành xác; nếu trầm trọng có thể đưa đến mất mạng. Trong khi đó, thì yểm có tác dụng hủy hoại đường công danh, sự nghiệp của đối thủ, khiến cho làm ăn thua lỗ, gia đình ly tán. Thư và yểm được thực hiện trên căn bản sử dụng quyền lực vô hình của bùa và chú, chỉ khác nhau ở nghi thức. Một lá bùa yểm có ba bộ phận quan trọng là “ Phù đầu” (tức đầu lá bùa), “Phù đảm” (tức gan lá bùa), “Phù khước” (tức chân lá bùa), và phải phối hợp sử dụng với chú ngữ và chỉ pháp để sử dụng. Muốn thư người nào thì người thầy dùng đồ vật có mang hơi hướng của người đó để làm phép, có thể là một mảnh áo quần hay một vật dụng thường dùng nhưng tốt nhất là tóc hay móng tay của đối tượng. Thầy pháp sẽ hàng ngày đọc thần chú, trù yểm vào những đồ vật trên khiến cho nạn nhân bị đau đớn, khổ sở. Cũng có nơi dùng hình ảnh hoặc hình nộm có ghi tên tuổi của khổ chủ. Sau khi têm phép và chú nguyện, người thầy có thể dùng vật nhọn đâm vào bức ảnh hay hình nộm để hành xác người bị thư. Hễ đâm vào nơi nào thì nạn nhân sẽ bị đau nơi đó cho dù ở cách xa vạn dặm. Khi thư, không cần phải gặp gỡ hay đến nơi cư ngụ của đối tượng, trong khi đó thì yểm cần phải thực hiện một cách trực tiếp hơn. Người thầy sau khi têm phép sẽ phải đến tận nơi mình muốn yểm để an vị lá bùa. Bùa càng gần nạn nhân bao nhiêu thì càng tác động mạnh mẽ bấy nhiêu.
Nếu thư yểm phát xuất từ cõi linh thiêng thì nhất định phải có mục đích giúp đỡ, giáo dục từ cõi vô hình. Đó là điều mà chúng ta cần tìm hiểu để có được một cái nhìn chính xác, đúng ý nghĩa cho bộ môn đầy bí ẩn này. Thật ra, đây là một bộ môn siêu hình đã xuất hiện trong dân gian từ ngàn xưa, khắp nơi trên thế giới. Môn này cũng không xa lạ gì đối với những tông phái huyền bí mà giải trừ thư yểm được xem là một phương tiện làm đạo, giúp đỡ người mắc nạn. Nhìn nguồn gốc của thư yểm, chúng ta thấy môn này được truyền dạy trong những bộ lạc hay sắc tộc thiểu số, sống ở những nơi xa xôi hẻo lánh. Thư yểm là một công cụ của thần thánh nhằm bảo vệ những tầng lớp yếu kém trong xã hội. Uy lực bí ẩn của thư yểm được dùng để bù đắp cho những thua sút của họ so với đồng loạị . Cách hành xử của thần thánh đã cho thấy bộ môn thư yểm chẳng qua là một công cụ huyền bí giúp con người trả nghiệp cũng như tu sửa, là phương tiện khuyến tu, giáo dục của các đấng linh thiêng trong công cuộc cứu độ nhân loại.

Thứ Ba, 26 tháng 8, 2014

Bùa Ngãi

          Quê tôi có người kể về tác dụng khác thường của cành cây do con chim quốc đậu trước khi chết. Khi con quốc bị mất bạn tình sẽ đứng kêu đến chết trên một cành cây. Người tìm được cành cây này nếu dùng nó đập vào người mà mình muốn lấy thì sẽ được như ý. Người ta nói rằng đây là trường hợp yêu vì bị bỏ bùa ngải. Vậy bùa ngải là gì?
"Bùa" còn được gọi là lá phép, linh phù. Linh phù phát xuất từ Ấn độ giáo, nó có tên được dịch từ chữ " Yantra" của tiếng Phạn, có nghĩa là những phương tiện tập trung năng lượng siêu nhiên giúp chuyển lời cầu xin đến các đấng Thần Linh. Lý Thiết Bút, tác giả cuốn “Linh phù hiển linh quang” nổi tiếng Trung Quốc, cho rằng, động lực của vẽ bùa là ở hai chữ “Thành” và “Tín”. Thành là thành tâm thực ý, chí thành thì linh, động đến trời đất; tín là tin tưởng hết lòng, tự nhiên sáng suốt, pháp lực vô cùng. Tuỳ theo công năng, mỗi linh phù có tên và nét vẽ khác nhau. Theo dân gian Việt Nam, Bùa bao gồm những nét vẽ ngoằn ngoèo bằng mực đỏ, không ý nghĩa. Khi vẽ trên giấy thì gọi là lá bùa, còn trên vải thì gọi là khăn bùa. Nếu không muốn để lại dấu vết, pháp sư có thể dùng nhang hoặc dùng tay vẽ lên không trung, gọi là khoán bùa.

Muốn đạt được linh ứng, bùa cần có đủ các điều kiện như sau:
1- Phải được truyền thần lực bởi những thầy tu huyền bí đức độ, đã có ấn lịnh từ cõi vô hình để làm việc này.
2- Khi thỉnh phép phải theo đúng ngày và giờ ấn định.
3- Phải lập lại lời cầu xin của mình hàng ngày.
          "Ngãi" có hai loại là ngãi khô và ngãi tươi. Khi luyện ngãi, pháp sư chỉ việc bỏ chậu ngãi tươi hoặc củ ngãi khô vào chậu đất, trịnh trọng bày lên bàn thờ cùng lễ vật, sau đó là nghi thức têm phép. Trong một số ngày nhất định thì củ ngãi sẽ nẩy mầm, thành cây và vậy ước nguyện sẽ linh ứng. Người ta cho rằng Ngãi có hiệu quả cao và nhanh chóng hơn so với bùa. Cách luyện ngãi cũng rất kỳ bí mà chỉ có một số ít pháp sư cao tay ấn mới biết. Mặc dầu bùa và ngãi lúc nào cũng được gắn liền với nhau nhưng trên thực tế chỉ có bùa mới có giá trị siêu hình. Trong khi đó, ngãi là sản phẩm của mê tín, được tạo dựng bằng huyền thoại với mục tiêu gạt gẫm để trục lợi. Có thể dễ dàng nhận thấy như vậy khi chúng ta tìm hiểu nguồn gốc của hai môn này trên quan điểm của một tông phái hay tôn giáo.
Chuyện dùng bùa ngãi vào mục đích xấu vẫn xảy ra khắp nơi và cõi vô hình dùng lối hành xử này để " lấy độc trị độc" đối với những kẻ xấu trên đời.


NHỮNG ẤN CHỨNG CỦA THẾ GIỚI VÔ HÌNH

Khi nghiên cứu ấn chứng của thế giới vô hình, người ta thấy2 nguyên tắc. Thứ nhất là bí mật, thứ 2 là một chiều. Theo nguyên tắc thứ  nhất , các ấn chứng của thế giới vô hình không bao giờ cho phép ta  biết một cách chắc chắn.Với nguyên tắc thứ hai, khi  tacó duyên thì mới được chứng nghiệm. Đấng thiêng liêng muốn chúng ta “học” tâm linh nên mới đưa “cơ duyên nhận ấn chứng” cho chúng ta. 
Cách thức cho ấn chứngcủa Vô hình là quathân, khẩu, ý của người được chứng nghiệm. Biểu hiện qua thân là khi xin sức khỏe, vô hình truyền thần lực cho ta.Qua ý là ta bỗng nhiên viết ra những bài văn, câu chuyện gọi là sự “tá ý”.Qua khẩu là ta nói những lời hay viết ra những đoạn văn, thơ  gọi là “tá khẩu”. ...Có rất nhiều cách chuyển  thông điệp qua “thân “ khác nhau. Mỗi chuyển động có một thông điệp kèm theo: Nhìn thấy “linh ảnh” của đấng mình thờ phượng, thấy được người thân đã khuất của mình. Mỗi ấn chứng đều có một thông điệp. Học thế giới vô hình là học qua các dấu hiệu, qua các cảm xúc vô hình.
Hình thức cho ấn chứng của thế giới vô hình đến với thế giới hữu hình có thể dưới các dạng  như : Linh tính, điềm báo, lời như thầy bói, giấc mơ,lời tiên tri.
Ma nhập cũng là một hình thức thế giới vô hình tác động vào thế giới hữu hình đã được thế giới công nhận. Vatican có bộ môn trừ tà, tòa thánh công nhận có tà nhập. Hồi giáo, Thiên chúa giáo, Phật giáo, dân gian cũng có trừ tà.Ngoài ra, ấn chứng của thế giới vô hình còn có ở các hình thức như: Thần quyền, nhân điện, thiền, khai mở luân xa, những khả năng chữa bệnh;Luyện phá luân, phương pháp thở: nằm thở, ngồi thở, thở bụng, soi hồn, xuất hồn; khai mở huyệt nhâm huyệt đốc; Đạo Cao Đài dùng cơ bút; dùng hình nhân để thư ếm; Xem chỉ tay, bói bài vvTa cần biết nguyên tắc tác động của các ấn chứng đối với người nhận được qua phân tích mục đích và đối tượng tác động. Mục đích tác động của ấn chứng lúc nào cũng giúp đỡ, giáo dục, khuyến tu, làm “thức tâm” thức tỉnh tâm linh của con người khi được chứng kiến.Đối tượng tác động của ấn chứng là những người hữu duyên và chỉ những người hữu duyên mà thôi.
Nghi thức để có ấn chứng của vô hình: Hãy thành tâm là muốn được chứng nghiệm thế giới siêu hình khi xin đấng linh thiêng mà ta thờ phụng, ban cho chúng ta một bằng chứng. Chỉ những người hữu duyên mới có bằng chứng. Điều kiện làm lễ xin ấn chứng rất đơn giản: Chắp tay cầu nguyện với đấng linh thiêng của mình xin cho biết sự hiện diện của Ngài. Nếu có duyên, Ngài sẽ đến với mình bằng “thần lực” của Ngài. Thần lực được ban cho người thọ nhận qua thân, khẩu, ý. (Đa số là qua “thân”, sau khi tu tập nhiều sẽ có tá “ý” và tá “khẩu”).
Tác giả của bài này đã nhận một vài ấn chứng qua cách “tác ý”. Xin được chia sẻ cùng mọi người:
Học thiền theo Phật
Học thiền theo Phật ngóng Niết bàn
Say thiền say khí ngó phím loan
Chuyện viển vông đời tưng tửng khắp
Có không, không có ấy việc hoan


Tâm thiền chùng nhẹ bàn chân xuống
Thở cái lầm thân xác chìm loan
Suối lý trí trong thành hoa nở
Thiện mầm duyên ngộ lá hoa xanh


Học thiền theo Phật lấy chữ duyên
Tứ tượng là con của lưỡng nguyên
Tâm mà đã khởi nhiều duyên khởi
Vô lượng kiếp kia vô lượng thiền







Hãy hiểu cho Thầy Độ của chúng ta

Chúng ta luôn có nhu cầu hoàn thiện mình.Nếu có người thầy khôn ngoan dẫn đường chỉ lối thì chúng ta sẽ rút ngắn được thời gian học hỏi. Thế nhưng, có nhiều thày muốn thử thách ta và cũng có những kẻ giả dạng làm thầy ta. Thật nguy hiểm nếu chúng ta tin tưởng vào những điều được dạybảo lúc đó. Như vậy: Làm sao phân biệt được thày độ dạy đúng hay không?.

Cách khôn ngoan nhất là hãy làm theo sự mách bảo của trực giác bản thân. Thứ hai, phải cân nhắc những điều đócó chứa tình yêu thương, lòng trắc ẩn không, điều đó có đem đến cho ta sự hoàn thiện tâm hồn hay không?. Dù thầy độ có thể dạy ta các kỹ năng và kỹ xảo tốt thì vẫn phải xác định: Họ chỉ đưa ta đến ngưỡng cửa còn ta mới là người phải bước qua ngưỡng của sự thử thách. Ta phải luôn tin rằng không có ma quỷ nào có thể làm hại ta, và cũng không có thầy độ nào có thể cứu rỗi linh hồn của ta. Ta phải tự tìm đường đi bằng chính đôi chân của mình.
Các thầy độ có thể thử thách ta qua các thông điệp sai lệch để biết khả năng thật của ta, đó là: Khả năng biết đánh giá phê bình để ta tìm được đường đi đúng đắn. Khi lắng nghe chính mình; khi hướng vào nội tâm;khi dành thời gian để cầu nguyện, ban tặng, giúp đỡ người khác bằng yêu thương;khi tình nguyện, bao dung, từ bỏ niềm kiêu hãnh, lòng tự trọng, tính ích kỷ, sự giận dữ, tội lỗi, tính tự cao tự đại, và tham vọng, ta sẽ tìm thấy chính mình và tìm thấy đường đi đúng đắn.
Cảm xạ viên muốn tìm thấy đường hướng tập luyện đúng thì đừng làm tổn thương người khác,  đừng hành động thô bạo, đừng bao giờ chấp nhận bất kỳ ý kiến nào mà không kiểm tra nó bằng sự khôn ngoan của trực giác.

Các đấng linh thiêng vẫn đang hiện diện ngay trong ta. 

Thông điệp từ cõi vô hình

Thông điệp từ cõi vô hình là gì:
Cõi Vô hình dùng để chỉ thế giới phi vật chất gồm có các đấng Thần linh, Ma quỷ và Linh hồn. Thông điệp từ cõi vô hình là lời nhắn gửi của Thần thánh hay lời tiên báo của nhà Tiên tri. Không thể biết được tông tích của những người gửi thông điệp, nên chỉ căn cứ theo nội dung của lời nhắn để xét đoán theo lẽ thường, đạo lý hoặc giới luật để quyết định có thể tin được hay không.
Thông điệp được gửi đến dưới các hình thức như: Gián tiếp qua trung gian người khác, trực tiếp qua tiếng nói ở trong đầu, hay nhìn thấy và trao đổi thẳng với cõi Vô hình.  Mục đích của những thông điệp là nhằm vào một người cụ thể với mục đích để khảo sát, quan sát trình độ nhận thức của họ.
Tâm thức khi tiếp nhận thông điệp từ cõi vô hình:
1.     Phải hành thiện thật lâu để mở tâm, rồi sẽ đến mở trí tuệ để am hiểu về các thông điệp.
2.     Cứ tin vào cái tốt và hết lòng hành thiện thì sẽ tìm được đường đi đúng.
 Khi đã nhất tâm hành thiện thì ai rồi cũng sẽ đắc đạo, ai cũng sẽ được về với ánh sáng tối thượng, chỉ có khác là kẻ đi mau, người đi chậm mà thôi.
3.      Khi gặp thử thách, nên nhớ rằng cái may mắn hay vất vả của đời này, kiếp này là nhờ sự khó nhọc của ta từ các kiếp trước cho nên phải cố gắng đừng từ bỏ con đường đã chọn.
4.     Hết sức cảnh giác với các thông điệp có tính cách cá nhân, có tính khen tặng, tâng bốc.
5.       Phải suy nghĩ, phân tích, cân nhắc, bình tĩnh khi nhận thông điệp. Nhớ rằng ta không phải là một siêu nhân. Hành động vô lý, thiếu suy nghĩ chính là tai họa đó .

6.       Phải biết lý luận, biết nghi ngờ để khám phá ra sự thật. Đừng sợ khi bị hăm dọa bởi vì hành động vô lý, thiếu suy nghĩ mới thật sự là tai họa. Đây là thái độ tĩnh tín cần thiết để vượt qua mọi thử thách của những thông điệp từ cõi Vô hình.

THẦN THÔNG

          Theo http://vi.wikipedia.org, Thần thông là sức mạnh tâm linh, đạt được do thiền định hay do tu tập một pháp môn nào đó. Khi có thần thông thì ý thức quyết định vật chất, thần thông cao cường có thể tự tạo ra một cõi không gian khác theo ý mình.  Thần thông đầy đủ nhất là lục thông, đó là: Thiên nhãn thông : Tăng khả năng nhìn của mắt, không bị trở ngại bởi khoảng cách, chướng ngại vật, thậm chí còn nhìn xuyên thời gian, nhìn thấy những sinh vật ở thế giới khác; Thiên Nhĩ Thông: Tăng khả năng nghe của tai, không bị trở ngại của ngôn ngữ, giống loài, có thể nghe được mọi âm thanh trên thế gian, hiểu được tiếng muôn loài; Tha Tâm Thông: Khả năng biết được suy nghĩ của kẻ khác; Túc mệnh thông: Khả năng nhìn thấy được trăm ngàn kiếp quá khứ của mình và người khác; Thần túc thông: Khả năng di chuyển không hạn chế: phi thân, di chuyển tức thời. Thậm chí còn có thể tàng hình, hiện thân to, nhỏ tùy ý; Lậu tận thông: Khả năng làm chủ bản thân tuyệt đối, ý nghĩ được kiểm soát, không còn vọng tưởng, không còn nghi ngờ, không bị nhiễm ô dù trong hoàn cảnh nào, tâm thức tĩnh lặng, xóa bỏ mọi nghiệp chướng. Người đạt Lậu Tận Thông sau khi chết sẽ không còn luân hồi sinh tử, sẽ ở trong một trạng thái vô cùng trong sáng, thoải mái, mà Phật giáo gọi là Niết bàn. Theo Phật giáo, hành giả muốn có Thần Thông có thể theo các cách: Nhờ sức mạnh của ý muốn tư tưởng. Nhờ vào sức tinh tấn nỗ lực tu tập. Nhờ sức mạnh của tâm niệm hoặc nhờ sức mạnh tư duy theo Phật lý.
Một câu hỏi đặt ra là: Tác dụng của thần thông là gì ?
          Khả năng của các nhà ngoại cảm hiện nay có thể xem như là một phần nhỏ của Thiên nhãn thông, Thiên nhĩ thông và Tha tâm thông. Nhà ngoại cảm sử dụng khả năng “thiên nhãn thông” của mình để tìm kiếm và phát hiện hài cốt, tìm kiếm khoáng sản, thăm dò lòng đất (ngành mỏ-địa chất), khả năng khám, chữa bệnh (ngành y khoa) v.v….

Vậy thần thông có bị giới hạn gì không?
          Thần thông không có khả năng giải trừ nghiệp lực mà con người đã tạo ra do hành động vô minh tham lam, sân hận trong cuộc đời. Thần thông không cứu được nghiệp ác của người thân, không chi phối được nghiệp lực. Thần thông không đưa người đến sự an lạc vĩnh viễn. Vậy thì, nên nhận thức rằng, phép thần thông không phải là một pháp lực vạn năng.
Bài học cho học viên:
          Chúng ta phải luôn tỉnh táo trên con đường tu tập. Việc viết bài thu hoạch và báo cáo tập luyện một cách trung thực trên Diễn đàn cũng là một cách để Thầy và các bạn có kinh nghiệm đi trước kịp thời hỗ trợ khi cần thiết. Trong quá trình tập luyện, học viên sẽ được chứng nghiệm các hiện tượng, thấy các ấn chứng. Nhưng chỉ coi đó là phương tiện trên con đường chúng ta tu tâm. Những khả năng đặc biệt không phải là mục đích tập luyện của bộ môn tâm linh mà chỉ là công cụ giúp cho học viên tìm lại được chính mình, làm cho tâm chúng ta thanh thản hơn, đem lại hạnh phúc cho mọi người có cuộc sống an lạc và lành thiện.

Bệnh Tâm Thần hay Ma Nhập

Từ thời La Mã, động kinh đã được gọi là "bệnh quỷ", khi người bệnh được xem là "nhập hồn". Niềm tin cổ xưa về mối liên hệ với hồn quỷ nhập là căn nguyên của thuật ngữ động kinh. Trong tiếng Hy Lạp, động kinh có nghĩa là "chiếm đoạt và bắt đi". Một số hình thái động kinh rất thích hợp để mô tả hiện tượng "ma nhập". Tâm thần phân liệt cũng có biểu hiện của trạng thái này.
Cho dù cảm giác và hành vi của nạn nhân giống như bị "nhập", những tiến bộ mới trong việc nghiên cứu cấu trúc và hoạt động của bộ não đã đưa ra quan điểm khác với niềm tin tôn giáo và huyền bí truyền thống. Theo đó, bản thể là một tập hợp thống nhất các tiểu hệ thống bán tự động đa dạng. Dưới tác động tâm lý và thần kinh nào đó, các tiểu hệ thống có thể mất tính đồng bộ và bắt đầu hành động độc lập, thậm chí trái ngược nhau. Kết quả là nạn nhân thấy bản thân như một thế lực vô hình và mạnh mẽ nào đó xâm chiếm và điều khiển mọi hành vi.
Mọi nền văn hóa đều có nhu cầu giải thích những hành vi và cảm xúc lạ thường như trên, khi cho rằng chúng là hệ quả của "ma nhập". Người bị ma nhập cảm thấy dường như có một "thực thể vô hình" nào đó xâm chiếm thể xác và tâm hồn, điều khiển mọi hành động và lời nói, và họ thì không có cách nào cưỡng lại được.
Ma nhập là niềm tin xuất hiện từ quan niệm vạn vật hữu linh có từ thời xa xưa, khi cho rằng mọi thực thể trong vũ trụ, dù là con người, động thực vật hay ngọn núi, con sông - đều có linh hồn điều khiển hành vi. Và một linh hồn mạnh mẽ hơn sẽ có khả năng "nhập" và điều khiển một linh hồn yếu ớt. Một số nhà dân tộc học cho rằng, vạn vật hữu linh và quan niệm ma nhập có vai trò gắn kết các cá nhân trong một nhóm xã hội, khi sự chia sẻ niềm tin siêu hình đóng vai trò chất keo kết nối, đồng thời tạo ra mối lo sợ có lợi cho đạo đức xã hội. Nhà tâm thần học xem ma nhập là ví dụ điển hình của trạng thái ý thức phân ly. Nó có thể xuất hiện do sự kết hợp giữa các cảm xúc mạnh, điều kiện xã hội, ý muốn cá nhân, sự ức chế kéo dài và những hoạt động bất lợi của não dưới ảnh hưởng của một kích thích lặp kéo dài. Và một thay đổi đột ngột, dường như ma quái xuất hiện ở cảm giác, trí nhớ, cảm xúc, động cơ, cũng như ở hành vi tự điều khiển và cách cảm nhận thế giới bên ngoài. Các nhà tâm thần có xu hướng xem ma nhập là hệ quả của những ức chế thể chất và tinh thần quá mức và kéo dài. Nó tạo ra một cách thức chấp nhận được về mặt xã hội để xả bớt những ẩn ức tâm lý bên trong. Ở mức vô thức, người "bị nhập" được thôi thúc vì mong muốn được làm giảm nhẹ những bức xúc cá nhân. Tùy theo từng người, hiện tượng "nhập" có thể được chấp nhận hay bị cấm đoán. "Ma nhập" thường được xem là nguyên nhân của vận xấu, bệnh tật hay bất hạnh. Ngược lại, khi được thiên thần chiếu cố, một người bình thường có thể trở thành nghệ sĩ có tài, có khi tự nhiên vẽ tranh rất đẹp hay làm thơ rất hay.
Phần lớn các nhà khoa học xem phân ly nhân cách là lời giải thích tốt nhất cho hàng loạt hiện tượng "nhập", theo đó phân ly là phá vỡ sự đồng bộ của các hoạt động tinh thần có tính tích hợp cao. Trong trạng thái thông thường, ký ức, tri giác, tư duy, cảm xúc cùng các hoạt động tinh thần và thể chất khác tạo thành một mạng lưới thống nhất giúp ta nhận rõ bản thân và thế giới. Song, một cú sốc thể chất hay tâm lý có thể khiến các tiểu hệ thống phân ly khỏi mạng lưới chung, khiến bản chất tích hợp của hệ ý thức bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Kết quả là hoạt động sinh lý và nhận thức trở nên bất thường.

Cùng với cảm giác bị điều khiển từ bên ngoài, còn thấy những biểu hiện ký ức phân ly, khiến mọi người có xu hướng xem họ đúng là bị "ma nhập". Một số nhà nghiên cứu cho rằng, sự mất trí nhớ là phản ứng bảo vệ đối với chấn thương, khi thường thấy mất các ký ức đau khổ, vốn rất khó tiếp nhận ở mức ý thức. Nhiều nhà điều trị dùng rối loạn đa nhân cách, với nhiều biểu hiện bên ngoài giống "ma nhập" để giải thích hiện tượng.

Công đức

Có sự khác nhau giữa công đức và phúc đức.
Phúc đức của con người có thể tăng do việc bố thí, đúc chuông, tạo tượng, in ấn kinh sách vv... Đây chỉ là những việc làm "bên ngoài", có ích lợi cho mọi người.  Phúc đức có công năng giúp chúng ta giảm thiểu nghiệp chướng, tiêu trừ quả báo, để được tai qua nạn khỏi, để bớt chướng ngại trên đường đạo, chứ không giúp chúng ta thoát ly khỏi vòng trầm luân sinh tử. Con người hưởng phúc vẫn còn trong lục đạo luân hồi.  Khi thụ hưởng hết phúc rồi thì  phải đền trả quả báo.
Công đức là công phu tu tập "bên trong", có ích lợi cho chính mình, nhờ tu tập mà có. Công đức có năng lực giúp chúng ta vượt qua bể khổ sông mê, chóng đến bờ giác ngộ và giải thoát. Công đức giúp ta không còn trong lục đạo sinh tử luân hồi nữa. Công đức giúp con người chuyển hóa tâm tính từ phàm phu tục tử trở thành bồ tát, thành Phật.
Chúng ta làm những việc từ thiện sẽ giúp được nhiều người đỡ vất vả. Những việc làm này đem lại lợi ích cho nhiều người và đem lại cho chúng ta phúc đức. Nhưng nếu bản thân Ta không biết tu tâm dưỡng tính, không học kinh điển, không tu tập  thì tất cả việc làm trên đây chỉ là những việc làm bên ngoài, có ích lợi cho nhiều người, nhưng không ích lợi cho bản thân Ta về phương diện giác ngộ và giải thoát. Tại sao vậy?
Bởi vì, tâm tham lam, sân hận, si mê bên trong chẳng những không giảm bớt mà lại có chiều hướng tăng thêm, phiền não không tan biến chút nào mà lại có phần dầy đặc hơn. Khi đó ta sẽ  nghĩ mình đã làm được bao nhiêu việc ích lợi nên ngạo mạn, phách lối ngày một tăng thêm. Khi Ta góp phần in ấn kinh sách cho người khác đọc, còn mình thì không đọc, góp phần bố thí, giúp đỡ người hoạn nạn, nghèo khó, nhưng không hiểu ý nghĩa cao cả của những việc làm đó mà lại mong được "trả công " ở cõi thiên đàng sau này thì chỉ tạo nên phúc đức mà thôi. Như vậy, lòng tham lam tăng thêm quá mức , Ta chỉ có phúc đức hạn chế theo số tiền đã bỏ ra mà thôi.
Nếu như bố thí, cúng dường mà không mong cầu gì cả, giúp người để cho người qua cơn khó khăn, túng thiếu, không đắn đo, không suy nghĩ, không tính toán gì thêm nữa, chúng ta sẽ bớt tham lam, tăng trưởng tâm: từ, bi, hỷ, xả. Như vậy, những việc làm đó vừa ích lợi cho người, vừa ích lợi cho mình. Nghĩa là vừa được phúc đức vừa được công đức.
Khi Ta thực hành lễ phép, cung kính, tôn trọng tất cả mọi người. Khi Ta coi ai ai cũng có "Chân Tâm Phật Tính" như nhau, cũng có ưu điểm để chúng ta học hỏi, noi theo, không phân biệt, không thành kiến, không kỳ thị, không tranh cãi, không hơn thua, không thị phi, không ỷ mình là kẻ trên người trước, kẻ có nhiều công lao, kẻ có nhiều tài năng, kẻ làm được nhiều việc không ai bằng. Như vậy chúng ta được nhiều người thương mến, gần gũi. Như vậy chúng ta có được "đức".
Nên biết : "Ai ăn nấy no. Ai tu nấy chứng" là lẽ công bằng tuyệt đối. Cũng vậy, Ta cần biết "Mình làm mình hưởng. Mình làm mình chịu". Cho nên, ngay từ bây giờ, chúng ta hãy phát tâm, tự thắp sáng ngọn đuốc trí tuệ của mình, thường xuyên tu tập,  không phân biệt người mới hay người đã tu học từ lâu, Ta cùng hướng dẫn, nương tựa nhau, giúp đỡ nhau, trên bước đường tu tập. Ðược như vậy, chúng ta có "Công Ðức và Phúc Ðức", một cách viên mãn, một cách song toàn.

Tẩu Hỏa Nhập Ma

Theo http://vi.wikipedia.org/wiki/T%E1%BA%A9u_h%E1%BB%8Fa_nh%E1%BA%ADp_ma, Tẩu hỏa nhập ma là một dạng tai biến trong quá trình tập luyện một phương pháp nào đó không đúng phương pháp dẫn đến hiện tượng tâm thần hoang tưởng dần dần sẽ trở nên điên dại, đồng thời sức khỏe sẽ giảm sút. Theo http://www.yogavocuc.com/?p=87, Tẩu hỏa nhập ma là một dạng tai biến trong quá trình tập luyện một phương pháp nào đó, thí dụ như là tập thiền, khí công, nhân điện, cảm xạ, năng lượng v.v…

          Như vậy, tẩu hỏa là một bệnh lý trong quá trình tập luyện không đúng phương pháp hoặc là học phải người thầy chưa đủ kinh nghiệm hướng dẫn. Hiện tượng bệnh lý của tẩu hỏa thường thấy như là tức ngực, khó thở, nhức đầu, nóng nảy v.v…hoặc cảm thấy lạnh ở trong người, thường đổ mồ hôi, ớn lạnh xương sống. Nếu không chữa trị sớm sẽ dẫn đến điên cuồng. Nhập ma là hiện tượng tâm thần hoang tưởng, cứ nghỉ là mình sẽ làm được việc đó, mà thực tế là không bao giờ làm được, hoặc bị một năng lượng lạ thâm nhập nên không còn là mình nữa và dần dần sẽ trở thành người điên. Để tránh tình trạng tẩu hỏa, nhập ma cần phải tìm được các bậc thầy nhiều kinh nghiệm và tham khảo, nghiên cứu thêm sách vở. Nếu phát hiện tẩu hỏa, nhập  ma thì phải ngng ngay việc tập luyện và tìm đến người thầy dạy của mình để điều trị. Chúng ta thấy Tâm đóng vai trò then chốt trong bệnh "Tẩu hỏa nhập ma". Vọng động là đầu mối, ngay cả việc tập tành quá độ gây hủy hoại cho thân xác cũng do lòng nôn nóng thành tựu. Tánh kiêu ngạo, lòng tham danh lợi cũng là mầm móng phát sanh ma sự dẫn đến "Tẩu hỏa nhập ma".

Đời cha ăn mặn đời con khát nước

Ý NGHĨA THEO TÂM LÝ CON NGƯỜI:
“Đời cha ăn mặn thì đời con khát nước”, tức là nếu cha ăn mặn, cha làm những việc thiếu phước tổn đức thì bản thân người cha đó là phải khát nước trước đã. Tiếp theo nữa là cuộc đời những người con phải cùng chịu cảnh thiếu thốn khát khao như cha vậy. Chỉ vì một lẽ đơn giản là nếu người cha ăn mặn tức sống không thiện lành thì sẽ dẫn đến nghèo khó, mà nghèo khó thì lấy đâu ra nhiều tiền của để nuôi dưỡng cho con ăn uống dư dã đầy đủ được, nên phải bị đói khát là chuyện thường tình.
Ý NGHĨA VỀ MẶT GIÁO DỤC:
Về mặt giáo dục, cha mẹ là một tấm gương để con của họ  xác định những giá trị đúng đắn về đạo đức cho bản thân. Làm gương là một trong những trách nhiệm quan trọng nhất của những người làm cha làm mẹ. Đây là một việc rất khó khăn vì đạo đức không phải là thứ mà các bậc phụ huynh có thể dạy cho con mình từ sách giáo khoa. Những kinh nghiệm và những lời khuyên của cha mẹ trước hành vi, ứng xử… của con mới sẽ tạo ra giá trị đạo đức, cốt cách ở con ngay từ khi còn bé. Có thể thấy sự ảnh hưởng của cha mẹ tới con cái qua các sự kiện sau:
1. Khi cha mẹ nói dối
Một trong những giá trị đạo đức quan trọng nhất của cha mẹ ảnh hưởng tới con của mình là nói dối. Nói ra sự thật có thể khó khăn hơn một chút, nó có thể khiến người khác buồn nhưng chỉ trong chốc lát. Hậu quả: Nếu không được giáo dục ngay từ bé, ban đầu con của họ  có thể chỉ học cách nói những lời nói dối vô hại, nhưng về sau thói quen nói dối sẽ trở nên nghiêm trọng và thường xuyên hơn nhằm che đậy lỗi của mình.
2. Khi cha mẹ không biết xin lỗi khi sai
Tạ lỗi trước người khác không chỉ là một giá trị đạo đức mà đó còn là nghi thức cơ bản. Khi cha mẹ không dạy con điều này, con của họ  sẽ không có thói quen và phản xạ tự nhiên mỗi khi làm điều gì đó không đúng. Hậu quả: Con của họ  không biết khiêm nhường.
3. Khi cha mẹ không phải là người hữu ích và hào phóng
Việc dạy con trở thành một người có ích và hào phóng sẽ tốt cho cuộc sống và hình thành nhân cách cũng như suy nghĩ đúng đắn cho con của họ  đối với vai trò của mình. Bởi vậy, để con trở thành một người hữu ích và hào phóng với mọi người thì bản thân bố mẹ phải là người trao cho con của họ  những giá trị đó ngay từ khi còn nhỏ. Hậu quả của việc cha mẹ không phải là người hào phóng và hữu ích là: Con con của họ  sẽ đơn độc trong đời.
4. Khi cha mẹ không thận trọng suy xét
Thận trọng xem xét trước khi đưa ra quyết định nào đó là việc quan trọng mà mỗi bậc cha mẹ cần phải dạy con qua lời và hành động. Cha mẹ không chỉ cho chúng những kinh nghiệm cuộc sống thì con của họ  không biết cách cách đưa ra quyết định, phải lựa chọn giữa những gì được xem là đúng – sai về mặt xã hội.Hậu quả:  Con của họ  sẽ không có thói quen đánh giá vấn đề chính xác và đúng đắn nhất, và sẽ phải hối hận vì xử lý hấp tấp, vội vàng.
5. Khi cha mẹ làm tổn thương người khác
Đây là một trong những giá trị đạo đức vô cùng quan trọng mà cha mẹ phải dạy cho con của mình. Cho dù là hành động vô ý thì việc khiến ai đó bị tổn thương về mặt thể chất hoặc tinh thần có thể dẫn đến những sự việc đáng tiếc. Vì thế, hãy giải thích cho con hiểu việc làm người khác đau buồn không có gì là tốt đẹp. Hậu quả khi không được dạy bảo điều này là: Khi con của họ  rơi vào hoàn cảnh khó khăn sẽ không có người đồng cảm, chia sẻ. Khi con của họ  không có lòng trắc ẩn với nỗi đau của người khác sẽ không biết tôn trọng cuộc sống của chính mình và của người khác và sẽ có những hành động sai lầm, ích kỉ, nông nổi.
Ý NGHĨA TÂM LINH
       Theo luật nhân quả thì ai làm người nấy chịu: cha làm tội, con không thể thay thế được; con làm tội, cha không thể thay thế được.  Vạy tại sao thấy có những việc: cha làm con phải chịu liên can, con làm cha phải chịu ảnh hưởng?.  Đó là vì: Nhân quả nghiệp báo có hai thứ: Biệt nghiệp và Cộng nghiệp.
Bật nghiệp Là nghiệp báo riêng của mỗi chúng sinh, như mình học nhiều thì mình biết nhiều, mình ăn thì mình no, mình siêng năng thì mình dễ thành công, mình lười thì mình thất bại.
Cộng nghịêp Là nghiệp chung cho nhiều chúng sinh; cùng sống trong một hoàn cảnh. Đã sinh chung một gia đình, một xứ sở hay một dân tộc, thì cái nghiệp quả phải có liên quan với nhau. Đó là vì: " Thông thường Thiêng Liêng hay sắp xếp cho những LINH HỒN cùng tầng bậc, cùng số vốn đức ở với nhau, giống như con người hễ giàu có tiền đức thì ở cùng tầng lớp giàu mà những người nghèo đức thì cũng phải ở cùng với những người nghèo đức"


THẾ GIỚI VÔ HÌNH


Tôi rất tâm đắc nhất nội dung: "Thế giới vô hình có hay không?" và đã trăn trở nhiều lần viết hay không. Sau khi nghiên cứu suy nghĩ, tôi xin trình bày những hiểu biết và suy nghĩ của mình về vấn đề này. Đây là thế giới có đặc tính thời gian rất đặc biệt với sự tồn tại đồng thời cả quá khứ, hiện tại và tương lai.

·       Nếu hiểu quá khứ qua lăng kính hiện tại sẽ có sự sai lệch vì điều kiện lịch sử khác nhau, do đó sẽ có những cách đánh giá, kinh nghiệm và kết quả khác nhau về những việc đã xảy ra.
·       Nếu tìm cách tiếp cận tương lai từ hiện tại, hiện nay, không có cách nào khác là phải nghiên cứu các quy luật trong quá khứ và từ quy luật này suy ra kết quả "Dự kiến" cho tương lai (Dựa trên mong muốn là trong tương lai quy luật đó vẫn đúng).
·       Nếu nhìn tương lai bằng đôi mắt của quá khứ, đòi hỏi phải có trí tuệ siêu phàm với trí tưởng tượng rất bay bổng (nhưng vẫn không biết có đúng không !).
Như vậy, yếu tố thời gian với 3 thì: Quá khứ, hiện tại, tương lai là một rào cản cho nhận thức của của chúng ta về Cõi vô hình. Đối với đa số người trên thế giới, quá khứ và tương lai là vô hình. Với một số người khác, ngay cả những việc đang xảy ra ở hiện tại cũng là vô hình vì không cảm nhận được.
Các tôn giáo luôn hướng các đệ tử tránh các tầng địa ngục và hướng tới thiên đường trong tương lai. Sở dĩ có điều đó vì họ tin rằng, ở thế giới sau khi chết, mọi tội lỗi và công lao của con người đều được cân nhắc rõ ràng. Bằng cách hành đạo của mình, các nhà truyền giáo của các tôn giáo luôn tìm cách truyền lòng tin cho các giáo đồ rằng, có thế giới vô hình sau khi chết. Phải chăng những đấng sáng tạo ra những tôn giáo đã đi qua được quá khứ và tương lai để có những hiểu biết về thế giới vô hình rồi mới quay lại trần gian để truyền cho các giáo đồ?

Vậy lý do để nghiên cứu Cõi vô hình có hay không là gì?

Ước vọng cháy bỏng của con người từ nhiều đời nay là: "Chiến thắng được rào cản của thời gian để đi được đến quá khứ và tương lai".
Tại sao việc vào được cõi vô hình lại quan trọng như vậy?  Đó là vì:
·       Khi di chuyển về quá khứ: Ta có thể thay đổi lịch sử.
·       Khi di chuyển về tương lai: Ta có thể thay đổi vận mệnh của cả thế giới.
Hiệu quả có thể nhìn thấy ngay được là : Khi di chuyển 1 con người ốm về quá khứ, ta có thể loại bỏ được các tác nhân gây bệnh cho họ và họ không bị bệnh nữa. Khi một điều bất hạnh xảy ra, ta về quá khứ và chọn cách xử sự khác để không cho bất hạnh có "đất" xảy ra nữa. Thực đáng mừng vì ta có thể tránh được các bất hạnh nhưng cũng thực đáng sợ nếu những kẻ bất lương vào ra được cõi vô hình phải không các bạn ?.
Để làm rõ được nội dung này ta sẽ nghiên cứu các phần sau:

 

Phần 1: CÁC QUAN NIỆM LIÊN QUAN TỚI CÕI VÔ HÌNH

1.1.         Trục thời gian trong cõi vô hình: Hiện tại, quá khứ, tương lai

Trong dòng chảy liên tục của lịch sử quá khứ, hiện tại và tương lai luôn kế tiếp nhau. Không có quá khứ, thì không có hiện tại và chẳng bao giờ có tương lai. Quá khứ là những gì đã đi qua, nhưng đã ghi lại dấu ấn trong lịch sử, nó gắn liền với lịch sử. Nhìn nhận đánh giá quá khứ một cách đúng đắn sẽ cho ta bài học kinh nghiệm quí giá, từ đó giúp chúng ta hành động đúng trong hiện tại và tương lai. Quá khứ thường dùng để chỉ tất cả các sự kiện xảy ra trước một mốc thời gian cho trước. Đối lập với hiện tạitương lai. Khái niệm về quá khứ bắt nguồn từ việc con người nhận thức tính tuyến tính của thời gian, quá khứ được xem xét thông qua trí nhớhồi tưởng. Sau khi phát minh ra ngôn ngữ, con người đã bắt đầu việc lưu trữ quá khứ. Quá khứ là đối tượng của nhiều lĩnh vực như sử học, khảo cổ học, khảo cổ thiên văn học, niên đại, địa chất, lịch sử địa chất, ngôn ngữ học lịch sử, pháp luật, bản thể học, cổ sinh vật học, cổ thực vật học, khảo cổ thực vật học, cổ địa lý học, cổ khí hậu học, và vũ trụ học.
Tương lai được xem là một thuật ngữ mô tả sự kiện một đoạn thời gian sau khi thay đổi, và trái ngược quá khứ. đối với thời gian là một góc độ nhận thức tính tuyến, là một phần thời gian sẽ xảy ra, có nghĩa là, trong không gian nêu trên, sự kiện hiện chưa phát sinh. Tương lai chiếm một vị trí quan trọng trong ngành triết học. Đến nay, sự tiến hóa vĩ đại nhất của con người là khả năng dự đoán trong tương lai cụ thể theo các phạm trù: trừu tượng ,trí tưởng tượng, logiccảm nhận. Trí tưởng tượng cho phép chúng ta quyết định các vấn đề hợp lý và do đó suy giảm nguy cơ xấu có thể xảy ra.
Muốn nhận thức được cõi vô hình phải di chuyển được trên trục thời gian để đi vào quá khứ và tương lai. Đã có nhiều ý kiến cho rằng, con người muốn vào được cõi vô hình phải có những năng lực đặc biệt, đó là:

1.2.         Quan niệm của đạo Phật về cõi vô hình

Phật Giáo coi thế giới chúng ta đang sống không phải là duy nhất và cũng không phải là trung tâm vũ trụ.  Ngoài thế giới chúng ta đang sống còn có rất nhiều thế giới khác.  Phật giáo phân loại các thế giới thành 3 loại: Tiểu Thiên Thế Giới, Trung Thiên Thế Giới, và Đại Thiên Thế Giới.  Danh từ thế giới trong Phật -giáo chỉ một thiên thể (thí dụ như trái đất) hoặc một tập hợp các thiên thể được coi như thuộc một nhóm (thí dụ như thái-duơng-hệ mà trái đất là một hành tinh trong đó).  Vậy, một ngàn thế giới họp thành một Tiểu Thiên Thế Giới, một ngàn Tiểu Thiên Thế Giới họp thành một Trung Thiên Thế Giới, và một ngàn Trung Thiên Thế Giới họp thành một Đại Thiên Thế Giới.  Vậy, lấy đơn vị là một hệ thống tương tự như hệ thống Thái Dương Hệ và gọi là thế giới thì Tiểu Thiên Thế Giới gồm có khoảng  một ngàn thế giới, Trung Thiên Thế Giới gồm khoảng một triệu thế giới , Đại Thiên Thế Giới gồm khoảng một tỷ thế giới v..v.. Đó là quan niệm về vũ trụ của Phật Giáo từ hơn 2500 năm về trước.  Cuộc sống hiện nay xẩy ra rất nhiều các hiện tượng về tâm linh mà theo quan niệm chung của con người là thần bí và kỳ lạ. Khoa học dù có phát triển đến đâu cũng bó tay trước các hiện tượng không theo các quy luật vật lý thông thường nhưng các thuyết lý nhà Phật có thể giải thích các hiện tượng thần bí, ngoại cảm. Những vấn đề mà khoa học phải bó tay dừng lại thì là điểm Phật pháp bắt đầu. Đi sâu vào Phật pháp ta sẽ thấy cõi nhân con người quá là nhỏ bé trong tam thiên đại thiên thế giới. Trong 10 pháp giới, chỉ có cõi người và súc sinh là cõi hữu hình mà chúng ta nhìn thấy được. 8 pháp giới còn lại (địa ngục, ngạ quỷ, atula, trời, thanh văn, duyên giác , bồ tát, Phật) chỉ có thể thấy được thông qua thiền định ở một mức nhất định. Vì cõi người là cõi hữu hình, lại ở trung dung giữa các cõi thiện ác nên nó rất dễ bị tác động bởi các cõi giới vô hình khác .
Phật giáo cho rằng, thế giới mà ta sống đang chịu ảnh hưởng rất nhiều sự tác động của các cõi giới vô hình khác khác. Sau khi qua đời, "Hồn" sẽ chuyển vào một trong 6 cõi tùy theo Nghiệp mà khi còn sống đã tạo nên là:
1. Cõi Trời (chư thiên, thần tiên có phép thuật, hình dáng oai nghiêm hơn con người.
2. Cõi Người (ta bà hay gọi là thế giới loài người):
3. Cõi ATULA (hình dáng không oai nghiêm bằng cõi trời nhưng cũng có phép thuật).
4. Cõi Địa Ngục (cõi âm, cũng là nơi chịu sự trừng phạt, đọa đày, cực hình):
5. Cõi Súc Sinh ( thế giới động vật):
6. Cõi Ngạ Quỷ (nơi bị đọa làm quỷ đói chịu vô lượng khổ):
 Theo các Lạt Ma Tây Tạng thì khi chết linh hồn người chết sẽ chuyển vào cõi giới nào đó và tùy theo tâm thức mà họ thấy được hình dáng, màu sắc sự vật nơi họ đến. Ngoài ra, tùy theo lòng tin vào tôn giáo của mình lúc còn sống họ sẽ thấy cảnh trí trước mắt theo tâm thức riêng của tôn giáo họ đã qua Kinh sách từng đọc.
Cần phải nói rằng, lý thuyết luận về cõi vô hình của các giáo phái là khác nhau và chưa có ai chứng minh lý thuyết nào là đúng.

1.3.         Quan niệm của giới học giả  Việt Nam gần đây

Gs Nguyễn Hoàng Phương trong cuốn sách Tích hợp đa văn hoá Đông Tây cho một chiến lược giáo dục tương lai ( Nguyễn Hoàng Phương, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội - 1996) đã đưa ra quan niệm về Thế giới vô hình theo quan điểm của nhà triết học và thông thiên học nổi tiếng C. Janarajadasa như sau:
 “Đối với thế giới rộng lớn hơn và vô hình đang bao quanh chúng ta, .... có tồn tại một thế giới mà mắt thường không trông thấy (được gọi là vô hình) bao quanh chúng ta ở mọi phía, đi xuyên qua, thấm vào và bao bọc mọi sự vật, một thế giới mà hết sức khó tả. Thế giới này được trông thấy không phải bằng con mắt bình thường của mỗi người. Các con mắt đó (mắt vật lý) dù mở hay nhắm lại đều không có vai trò quan trọng. Hiện tượng nhìn thấy bằng mắt vật lý và hiện tượng trông thấy một cách nội tại là độc lập nhau mặc dù cả hai hiện tượng đó hiện ra đồng thời. Trong khi các con mắt vật lý của chúng tôi nhìn vào mảnh giấy mà chúng tôi đang viết thì cùng lúc cũng có cái gì đó trong bản thân (chúng tôi không biết gọi như thế nào) lại nhìn thấy thế giới vô hình ở bên trên, ở bên dưới và đi xuyên qua tờ giấy, qua cái bàn, qua gian phòng đang ở...
Thế giới vô hình rất sáng và dường như mỗi điểm của thế giới đó có một ánh sáng riêng của nó, nhưng lại không thuộc loại ánh sáng vật lý. Không gian của thế giới này chứa đầy các chuyển động, nhưng lại là một chuyển động hiện ra một cách run rẩy và rất khó tả, gợi ý cho chúng ta quan niệm về một chiều thứ tư nào đó. Với tất cả uy tín mà chúng tôi có được, với lương tâm, ý thức và tất cả những hiểu biết của mình, chúng tôi khẳng định rằng thế giới vô hình còn tồn tại thực hơn cả thế giới vật lý. Mỗi khi chúng tôi nhìn thế giới đó rồi lại nhìn thế giới mà chúng ta đang sống thì chúng tôi thấy thế giới thứ hai này dường như chỉ là một hiện tượng hoàn toàn hoang tưởng, một cái gì đó vô minh và không còn có những phẩm chất cho phép chúng tôi gán cho cái từ có thực. Mỗi khi chúng tôi so sánh thế giới của chúng ta với sự tồn tại mạnh mẽ của các cõi giới vô hình thì tưởng chừng thế giới chúng ta ngỡ ngàng như một giấc mộng.

1.4.         Quan niệm của TS. Stephen William Hawking

Ông là một nhà vật lý người Anh. Sinh ngày 8 tháng 1 năm 1942, tại Oxford, Anh quốc. Tiến sỹ về vũ trụ học, đang làm việc tại đại học Cambridge.
Trong bài giảng của mình về Nguồn gốc của vũ trụ tại Viện Công nghệ California ở Pasadena (Mỹ) Ông cho biết, lĩnh vực chuyên môn nào được dự kiến là sẽ mang lại những đột phá khoa học. Ông Hawking nói với báo Los Angeles Times rằng: "Một mắt xích mà vũ trụ học chưa tìm ra được là bản chất của vật chất tối và năng lượng tối. Vật chất thông thường chỉ chiếm 5%  vũ trụ còn lại 27% là vật chất tối và 67% năng lượng tối”.
Bản chất của năng lượng tối và vật chất tối là một trong những bí ẩn lớn nhất của khoa học hiện đại. Vật chất tối là một chất giả định, lần đầu tiên xuất hiện trong các công trình của những nhà vật lý lý thuyết trong những năm 70 của thế kỷ trước, để giải thích sự phân bố bất thường về tốc độ chuyển động của các ngôi sao và các chất khí trong thiên hà. Kết quả nghiên cứu của họ đã chứng minh rằng chuyển động này xảy ra dưới ảnh hưởng của lực hấp dẫn mạnh, và không thể giải thích được qua các dạng vật chất có thể  nhìn thấy. Vật chất tối làm tăng khối lượng của các thiên hà. Nó không phát ra, không hấp thụ và không phản chiếu ánh sáng. Theo một giả thuyết được thừa nhận, vật chất tối tràn đầy thiên hà hệ Mặt trời và một phần của nó đi qua Trái đất. Năng lượng tối, không thể đo một cách trực tiếp, đang làm vũ trụ giãn nở. Các nhà khoa học tin rằng nếu không có năng lượng tối thì dưới tác động của lực hấp dẫn, vũ trụ sẽ "nổ tung".
Như vậy, Stephen William Hawking cho rằng có  thế giới vật chất vô hình là 1 bộ phận của vũ trụ  và chiếm tới 95%  vũ trụ. Cần lưu ý rằng, đây là ý kiến của một nhà khoa học đang được coi là ông hoàng của vật lý lý thuyết hiện nay của thế giới.

1.5.         Quan niệm của triết học

Chủ nghĩa duy vật, theo triết học, là một hình thức của chủ nghĩa duy vật lí (physicalism) với quan niệm rằng thứ duy nhất có thể được thực sự coi là tồn tạivật chất; rằng, về căn bản, mọi sự vật đều có cấu tạo từ vật chất và mọi hiện tượng đều là kết quả của các tương tác vật chất. Khoa học sử dụng một giả thuyết, đôi khi được gọi là thuyết tự nhiên phương pháp luận, rằng mọi sự kiện quan sát được trong thiên nhiên được giải thích chỉ bằng các nguyên nhân tự nhiên mà không cần giả thiết về sự tồn tại hoặc không-tồn tại của cái siêu nhiên. Với vai trò một học thuyết, chủ nghĩa duy vật thuộc về lớp bản thể học nhất nguyên. Như vậy, nó khác với các học thuyết bản thể học dựa trên thuyết nhị nguyên hay thuyết đa nguyên. Người theo chủ nghĩa duy vật không tin vào sự tồn tại của cõi vô hình.
Chủ nghĩa duy tâm là trường phái triết học khẳng định rằng mọi thứ đều tồn tại bên trong tâm thức và thuộc về tâm thức. Là một nền tảng của ngành vũ trụ học, hay một cách tiếp cập tới hiểu biết về sự tồn tại, chủ nghĩa duy tâm thường được đặt đối lập với chủ nghĩa duy vật, cả hai đều thuộc lớp bản thể học nhất nguyên chứ không phải nhị nguyên hay đa nguyên.
Chủ nghĩa duy tâm có hai khuynh hướng: Chủ nghĩa duy tâm chủ quan phủ nhận sự tồn tại của thế giới khách quan và coi nó là một cái gì đó hoàn toàn do tính tích cực của chủ thể qui định. Chủ nghĩa duy tâm khách quan thừa nhận ý thức, và tinh thần là thuộc tính thứ nhất (có trước), vật chất là thuộc tính thứ hai (có sau). Nó coi tồn tại không phải là tâm thức con người theo như quan niệm của Chủ nghĩa duy tâm chủ quan mà là một tâm thức nào đó ở bên ngoài thế giới như "tinh thần tuyệt đối", "lý tính thế giới", v.v...
Chỉ những người theo chủ nghĩa duy tâm khách quan mới tin là có cõi vô hình.

1.6.         Hiện tượng ngoại cảm tác động không nhỏ vào quan niệm của người Việt Nam về thế giới vô hình.

Hiện tượng đi vào quá khứ để tìm hiểu các thông tin đã xảy ra vói những người đã chết được các nhà ngoại cảm thực hiện nhiều lần. Tại Việt nam, các hiện tượng tâm linh được cho là thần bí và khả năng ngoại cảm của con người có rất nhiều. Việt Nam hiện nay có khoảng hơn 100 người được cho là có khả năng ngoại cảm. Trong số đó chỉ có khoảng hơn 10 người là có khả năng liên tục và ổn định. Số còn lại thường lúc có lúc mất. Đến nay người ta vẫn chưa biết vì sao một con người chưa trải qua tu hành mà đã đạt được khả năng này? Vì sao khả năng này lại lúc có, lúc không?. Do các nhà ngoai cảm có thể lấy thông tin từ quá khứ (cõi vô hình) và đã có người mô tả lại quá trình này trên các phương tiện thông tin đại chúng nên họ là những người có nhận thức và năng lực hành vi để chứng minh được rằng: Thế giới vô hình là có thật.

Phần 2: SỰ LIÊN QUAN CỦA THỜI GIAN ĐẾN CÕI VÔ HÌNH

2.1. Ý tưởng quay về quá khứ của nhà bác học ArBert EinsTein:

Khi đưa vào không gian một chiều nữa và được gọi là không thời gian gồm ba chiều không gian và một chiều thời gian, nhà bác học AlBert EinsTein đã làm đảo lộn mọi suy nghĩ bình thường của chúng ta. Thuyết tương đối rộng của Ông nói rằng, khối lượng làm cong không gian và thời gian, và dẫn đến một hệ quả là: Giả sử chúng ta ngồi trên chiếc phi thuyền đi nhanh hơn vận tốc ánh sáng thì ta sẽ đuổi kịp quá khứ và sinh ra ở tương lai. Hệ quả này sai, nhưng chưa một nhà khoa học nào đủ khả năng chứng minh nó sai.

2.2. Hệ Không-thời gian

Trong cơ học cổ điển, không gianthời gian là 2 khái niệm hoàn toàn riêng biệt. Cùng một sự việc luôn trôi qua trong những khoảng thời gian giống nhau khi quan sát trong các hệ quy chiếu khác nhau. Các sự việc này có thể được làm đồng bộ bằng việc dùng chung một đồng hồ đo thời gian tuyệt đối.
Trong mô hình thuyết tương đối hẹp của Albert Einstein, thời gian diễn ra của cùng một sự việc là dài hay ngắn phụ thuộc vào lựa chọn hệ quy chiếu. Cách mô tả các sự việc được thực hiện chính xác trên một hệ thống hình học được sáng tạo bởi Hermann Minkowski, ở đó không gian và thời gian được xem xét là một cặp. Đây là hình học Minkowski, nơi một sự kiện được nhận dạng bằng một thế giới điểm của 4 chiều không-thời gian liên tục.
Chiều thời gian thường được đặt là ct với ctốc độ ánh sáng, tthời gian, để có cùng thứ nguyên với các chiều không gian. Tuy nhiên chiều thời gian là một chiều đặc biệt và ct không hoàn toàn giống các chiều không gian khác.

2.4. Không thời gian cong

Trong lý thuyết tương đối rộng, không thời gian có thể cong. Sự cong của không thời gian gây ra bởi sự có mặt của vật chất, được nêu trong phương trình Einstein. Các không thời gian cong được đặc trưng bởi tenxơ mêtric của không thời gian, nghiệm của phương trình Einstein sẽ cho biết một sự sắp đặt của vật chất. Một số không thời gian cong ứng với các trường hợp đặc biệt có thể kể đến là mêtric Schwarzschild, mêtric Reissner-Nordström hay mêtric Kerr. Mêtric Schwarzschild mô tả chân không quanh một hành tinh, ngôi sao hay một hố đen không quay và không tích điện, và là ví dụ đơn giản nhất về không thời gian quanh hố đen. Khi không có vật chất, lời giải phương trình Einstein trở về không thời gian phẳng như trong lý thuyết tương đối hẹp.

2.5. Sự kiện, vũ trụ tuyến, thời gian riêng và đường trắc địa

Trong không thời gian, mỗi một điểm gọi là một sự kiện (do xảy ra tại một thời điểm và vị trí xác định).
Bình phương khoảng cách giữa hai sự kiện trong không thời gian, s2, có thể lớn hơn hay nhỏ hơn 0 và khiến cho khoảng cách giữa hai sự kiện được chia làm 3 loại:
1.    Kiểu thời gian: s2 <0
2.    Kiểu ánh sáng: s2 = 0
3.    Kiểu không gian: s2 > 0
Giữa hai sự kiện có nhiều đường nối, nhưng đường nối ngắn nhất gọi là đường trắc địa.
Trong cả hai lý thuyết tương đối, một vật thể trong không thời gian đi theo vũ trụ tuyến hướng từ quá khứ tới tương lai. Vũ trụ tuyến của hạt photon là đường nối giữa các sự kiện liên tục có khoảng cách kiểu ánh sáng (s2 = 0); vũ trụ tuyến của các vật thể có khối lượng có kiểu thời gian. Khoảng cách giữa hai sự kiện trên một vũ trụ tuyến còn gọi là thời gian riêng, thời gian giữa hai sự kiện đo được bởi một quan sát viên đi theo vũ trụ tuyến này từ sự kiện này tới sự kiện kia.
Trong lý thuyết tương đối rộng, vật thể chuyển động theo quán tính đi theo đường trắc địa kiểu thời gian.
Kết luận: Nếu tất cả các ngoại lực tác động một lực đủ lớn làm chu kỳ bất kỳ của vật thể liên tiếp thay đổi đường thẳng gốc và quỹ đạo gốc, tạo ra không thời gian cong. Không thời gian cong khi và chỉ khi các ngoại lực tác động một lực đủ lớn làm cho chu kỳ bất kỳ của vật thể liên tiếp thay đổi các góc Alpha+n so với đường thẳng gốc và quỹ đạo gốc.Trên một đường thẳng hoặc một quỹ đạo bất kỳ, nếu ánh sáng chuyển động theo một chu kỳ nhất định hoặc sau mỗi một chu kỳ nó lại đi ngang qua điểm xuất phát thì khi đó không tồn tại không thời gian cong. Như vậy, so với lý thuyết hiện tại cho dù có sự có mặt của vật chất vẫn khó có khả năng xuất hiện không thời gian cong.
Nếu có một không thời gian cong với độ cong đủ lớn, giống như độ cong của 1 ống hình trụ  thì người ta có thể có thể làm cho thời điểm quá khứ gặp thời điểm hiện tại. Ta  sẽ lấy được thông tin của quá khứ như các nhà ngoại cảm đã làm.

2.6. Vai trò, vị trí của con người trong Thế giới vô hình

Trong thực tế không có một thuyết chuẩn nào về nguồn gốc sự sống và loài người trong vũ trụ này. Tuy nhiên, những thuyết được người ta chấp nhận nhiều nhất đều được xây dựng trên một số những phát hiện về cấu trúc phân tửtế bào,  gồm những luận điểm: Ở những điều kiện thích hợp, những vật chất không sống có thể tạo nên những phần cấu tạo nên tế bào sống, như amino acid. Điều này đã được chứng minh qua thí nghiệm Urey-Miller do Stanley L. MillerHarold C. Urey vào năm 1953. Một số nguồn khác tạo thành các hợp chất hữu cơ phức tạp từ những yếu tố từ ngoài Trái Đất như các thiên thạch.  Con người trong vũ trụ và trái đất này là vô cùng nhỏ bé. Nhưng với những đặc thù riêng của mình, con người vẫn đang cố gắng luận giải về sự hình thành vũ trụ và qua đó luận giải về sự tồn tại của mình. Đã có nhiều thuyết về vấn đề "Vũ trụ đã được hình thành như thế nào?". Đó là: Thuyết Big Bang (hay còn gọi là vụ nổ lớn)Thuyết “Vô thủy vô chung” 
Nhìn chung, hai luận thuyết hình thành nên vũ trụ, mà các nhà khoa học trên thế giới nêu ra đều chưa có tính thuyết phục hoàn toàn.Nhưng thuyết “Big Bang”, rất được sự ủng hộ của các nhà khoa học hiện nay. Cả 2 thuyết này đều không lý giải được vì sao lại có các vụ nổ,  do đó chưa thuyết nào giải thích được có thế giới  vô hình hay không.

2.7. Bàn luận về việc thế giới  vô hình có hay không?

Quan điểm 1: Bí ẩn vẫn mãi là bí ẩn

Dù là gì đi nữa, bộ não của chúng ta cũng chưa bao giờ được rèn luyện để nhìn thấy bất cứ điều gì khác nằm ngoài thế giới nơi chúng ta đang sống. Để hiểu được chiều không gian thứ 4, bạn phải được nhìn thấy nó và cảm nhận nó, cho nên:  Nhiều truyền thuyết cho rằng, chiều không gian thứ 4 là nơi các linh hồn cư ngụ, bởi chúng không còn chịu tác động bởi bất cứ một quy luật vật lý nào. Trong thuyết tương đối của mình, Einstein đã đồng nhất thời gian với chiều không gian thứ 4, nhưng điều này cũng gây nhiều tranh cãi, bởi không gian và thời gian là 2 thứ không thể tách rời. Từ lâu, thời gian và không gian luôn được xem như một miền liên tục thống nhất, bất cứ thay đổi nào ở phía thời gian sẽ tác động lên không gian, và ngược lại. Tuy nhiên, Einstein đã bác bỏ điều này thông qua việc chỉ ra một yếu tố có khả năng bẻ cong mối tương quan giữa không gian và thời gian – đó chính là trọng lực.
 Nhiều nhà nghiên cứu đã sử dụng ý tưởng của Einstein nhằm mục đích du hành xuyên thời gian. Chúng ta có thể di chuyển tới bất cứ đâu, với bất cứ phương hướng nào trong thế giới 3D, nhưng chúng ta lại chỉ có thể di chuyển xuôi dòng theo chiều thời gian. Nhiều nhà khoa học vẫn nuôi hi vọng tìm ra các lỗ sâu giúp kết nối giữa các vùng khác nhau trong miền không gian-thời gian.
Lý do gì mà mặc dù chúng ta không thể dùng chiều không gian thứ 4 này cho việc du hành xuyên thời gian, và không nhìn thấy chiều không gian này, nhưng vẫn mất công sức tìm hiểu về nó? Đó là vì: việc hiểu biết về các chiều không gian rộng lớn hơn là vô cùng quan trọng cho việc hiểu rõ hơn về thế giới.

Quan điểm 2: Kẽ hở của không gian 4 chiều là đường vào thế giới vô hình ?

Để giải thích các vấn đề trên, các nhà khoa học cho rằng không gian có thể có nhiều hơn ba chiều (bốn chiều, năm chiều...).
·        Những người đã gặp được người hành tinh khác có liên quan đến một năng lực đặc biệt, giúp họ đi vào thế giới không gian bốn chiều bí ẩn, vì thế họ đã nhìn thấy những hình ảnh mà người khác không nhìn thấy được.
·          Theo các nhà khoa học, bộ não của con người bình thường không thể tưởng tượng được không gian bốn chiều. Nhưng, những điều thần bí đôi khi cũng đến với các sinh vật ở không gian hai chiều. Ví dụ, thời gian cần thiết để chúng vượt qua khoảng cách từ A đến B trên mặt phẳng (không gian hai chiều) khoảng chục năm. Nhưng vì một biến cố nào đó, mặt phẳng kia bị cong lại trong không gian ba chiều, khiến điểm A và điểm B gần nhau hơn, thậm chí trùng lên nhau thì có ngay điều kì diệu  là: Thời gian hàng chục năm để đi từ A đến B đạt được chỉ ngắn bằng giây lát.
·         Không gian ba chiều nằm trong cái nôi của không gian bốn chiều (như không gian hai chiều nằm trong không gian ba chiều). Những ai có khả năng xâm nhập vào chiều không gian thứ tư, thì đối với họ khoảng cách hàng vạn km, thậm chí hàng vạn năm ánh sáng không còn ý nghĩa gì. Họ vượt qua trong phút chốc bằng cách đi qua “ khe hở” của chiều thứ tư này. "Khe hở" đó là biên giới ngăn cách hai thế giới: Thế giới của không gian ba chiều và thế giới của không gian bốn chiều. Đó chính là cơ hội để những sinh vật cấp thấp xâm nhập vào chiều thứ tư, như những người trên trái đất đã gặp người hành tinh khác.Phải chăng, khi luyện tập xuất thần, những nhà tu hành đã tạo ra được "Khe hở" này?
·         Để chứng minh sự tồn tại của chiều không gian thứ tư, các nhà khoa học Mỹ dự định thí nghiệm để chỉ ra sự thay đổi này của lực hấp dẫn để có thể kết luận rằng có chiều không gian thứ tư. Các nhà khoa học hi vọng trong tương lai gần, các thí nghiệm này sẽ được thực hiện. Nếu thí nghiệm thành công, thì đây là một sự kiện chấn động vì nó sẽ khẳng định sự tồn tại của chiều không gian thứ tư.
Quan điểm 4: Vũ trụ trong hệ toạ độ 11 chiều của Stephen Hawking giải thích được hiện tượng linh cảm
          Nhà vật lí người Anh Stephen Hawking (đã giới thiệu phần trước )mới phát triển ra một mô hình vũ trụ từ những công thức toán học tỉ mỉ. Những phát kiến mới này của Hawking dường như làm đảo lộn quan điểm khoa học truyền thống và được trình bày bằng thuyết M.  Thuyết này được coi là tổng hợp của thuyết lượng tử và thuyết tương đối, được gọi là "thuyết lượng tử hấp dẫn". Theo Hawking thuyết này cung cấp và lí giải chính xác về bản chất của vũ trụ. Khi phát triển thuyết M, Hawking tin rằng đã đạt được những thành tựu có tính bước ngoặt, dựa trên nền tảng của một lí thuyết rất nổi tiếng trong những năm gần đây Thuyết dây.
 Với "thuyết lượng tử hấp dẫn" của mình, Hawking đã tính ra vũ trụ của chúng ta được hình thành từ 11 chiều. Nhưng chỉ có ba chiều không gian và một chiều thời gian đã mở, còn bảy chiều kia bị cuộn lại từ sau vụ nổ lớn.
Lí thuyết trên của Hawking đang gây ra nhiều tranh cãi lớn, vì nhà vật lí này cho rằng có thể giải thích được hiện tượng "linh cảm" một cách khoa học bằng thuyết M: Trong mô hình vũ trụ này, cùng lúc tồn tại vô số nhữngcon người khác nhau trong một con người. Và cùng lúc, tất cả thông tin về vũ trụ ở mọi thời đại đều hiện hữu. Vì thế, hiện tượng "linh cảm" có thể giải thích bằng việc một con người nào đó trong bạn đã trải nghiệm điều mà bạn sẽ trải qua, và mách bảo cho bạn biết trước điều đó.
Quan điểm 4:   Mô hình toàn đồ và bảy nguyên lý về bản chất của thực tại
Khi đi vào thời kỳ của toàn đồ, chúng ta phải chuẩn bị cho nhiều sự đổi thay. Thời kỳ này dựa trên bảy nguyên lý căn bản về bản chất của thực tại.
 Nguyên lý 1: Ý thức là thực tại căn bản
 Nguyên lý 2: Mọi thứ đều gắn với cái toàn thể
 Nguyên lý 3: Mỗi yếu tố chứa đựng tất cả
 Nguyên lý 4: Thời gian cũng là toàn đồ
 Nguyên lý 5: Nét cá thể và năng lượng là điều thiết yếu cho vũ trụ
 Nguyên lý 6: Cái toàn thể lớn hơn sự cộng lại của từng yếu tố
 Nguyên lý 7: Ý thức sáng tạo ra thực tại và trải nghiệm bản thân của thực tại

Kết luận: Người ta đang chứng minh thế giới vật chất cũng có vô hình và hữu hình. Thế giới vô hình tâm linh cũng đang được chứng minh là có thật khi các nhà ngoại cảm có thể lấy được thông tin từ quá khứ và các nhà vật lý lý thuyết tìm được cách lý giải hiện tượng này bằng mô hình toán Không - Thời gian.

Phần 3: NHỮNG SỰ VIỆC CHƯA LÝ GIẢI ĐƯỢC

3.1.         Xuyên qua thời gian bằng 6 loại Thần thông của Phật giáo

Thần thôngsức mạnh tâm linh, đạt được do thiền định hay do tu tập một pháp môn nào đó. Thần thông đầy đủ nhất là lục thông. Các nhà triết học duy vật, và hầu hết các nhà khoa học đều cho rằng, vật chất quyết định ý thức. Nhưng khi có thần thông thì ý thức lại quyết định vật chất, thần thông cao cường có thể hô mưa gọi gió, tự tạo ra một cõi không gian khác theo ý mình . Các tôn giáo thường tạo ra thiên đườngđịa ngục cho những tín đồ của mình. Thần thông không phải là cứu cánh, mà chỉ là phương tiện trên con đường học đạo. Muốn có thần thông phải công phu tập luyện mất nhiều thời gian, phải gác bỏ nhiều việc khác để dành giờ cho thần thông. Theo Phật giáo, có các loại thần thông sau:
·        Thân như ý thông, gọi là Thần túc thông: biến hiện tuỳ theo ý muốn, thân có thể bay lên trời, đi trên biển, chui vào trong núi... tất cả mọi động tác đều tuỳ theo ý muốn, không hề chướng ngại.
·        Thiên nhãn thông: nhìn thấy tất cả mọi hình sắc ở gần hay ở xa trong cả thế gian, nhìn thấy mọi hình tướng khổ vui của chúng sinh trong sáu nẻo luân hồi.
·        Thiên nhĩ thông: nghe và hiểu hết mọi âm thanh trong thế gian, nghe và hiểu hết mọi ngôn ngữ của chúng sinh trong sáu nẻo luân hồi.
·        Tha tâm thông: biết hết tất cả mọi ý nghĩ trong tâm của chúng sinh trong lục đạo.
·        Túc mệnh thông,  còn gọi là Túc mệnh minh: biết được kiếp trước của chính bản thân mình và của chúng sinh trong lục đạo, từ một đời, hai đời cho đến trăm ngàn vạn đời trước đều biết rõ, nhớ rõ sinh ra ở đâu, cha mẹ là ai, tên gì, làm gì...
·        Lậu tận thông : lậu tức là kiến hoặc và tư hoặc trong ba cõi. Lậu tận thông là dứt trừ toàn bộ kiến hoặc và tư hoặc trong ba cõi, không còn sinh tử luân hồi trong ba cõi, được giải thoát hoàn toàn.
Chưa ai giải thích được vì sao: Thiền cũng là một công cụ tạo ra những khả năng như thần thông cho con người?. Theo đạo Phật, hành giả nhờ Thiền mà đạt đến một trạng thái sâu lắng của tâm thức, trong đó toàn bộ tâm thức chỉ chú ý đến một đối tượng thiền định thuộc về tâm hay vật. Tâm thức sẽ trải qua nhiều chặng, trong đó lòng tham dục dần dần suy giảm. Một khi hành giả trừ năm chướng ngại (ngũ cái) thì đạt được bốn cõi thiền (tứ thiền định) của sắc giới, đạt Lục thông và tri kiến vô thượng. Tri kiến này giúp hành giả thấy rõ các đời sống trước của mình, thấy diễn biến của sinh diệt và dẫn đến giải thoát mọi lậu hoặc. Trong một ý nghĩa bao quát, Thiền là một trạng thái tâm thức không thể định nghĩa, không thể miêu tả và phải do mỗi người tự nếm trải. Trong nghĩa này thì Thiền không nhất thiết phải liên hệ với một tôn giáo nào cả. Trạng thái tâm thức vừa nói đã được các vị thánh nhân xưa nay của mọi nơi trên thế giới, mọi thời đại và văn hoá khác nhau trực nhận và miêu tả bằng nhiều cách. Đó là kinh nghiệm giác ngộ về thể sâu kín nhất của thực tại, nó vừa là thể của Niết-bàn và vừa của Luân hồi, sinh tử. Vì vậy, Toạ thiền giúp con người khám phá bản thể thật sự của mình. Đó là một dạng thần thông.

3.2.         Nhà ngoại cảm xuyên qua thời gian về quá khứ

·        Những ngày đầu đi tìm mộ đối với Phan Thị Bích Hằng còn nhiều khó khăn vì chị chưa biết “nói chuyện” với người đã khuất mà chỉ “nhìn thấy hình dáng họ với những đặc điểm đáng nhớ. Nhưng từ khi “trò chuyện” được với người đã khuất, nhà ngoại cảm Phan Thị Bích Hằng đã lang thang khắp các ngôi mộ để tìm cách lắng nghe thông điệp của người đi trước nói rồi chỉ dẫn cho thân nhân họ. Chị Hằng đã về được quá khứ
·         Cô Vũ Thị Năm Nghĩa - thường gọi là cô Năm Nghĩa - đã cùng các gia đình tìm được hàng ngàn hài cốt liệt sĩ ở khắp mọi miền đất nước, không quản ngại khó khăn. Tính kiên trì, lòng thiết tha vì nghĩa cử với các liệt sĩ cộng với khả năng kỳ diệu của cô đã giúp đem lại sự thanh thản cho không ít những gia đình trước đây chưa tìm thấy di hài người thân yêu của mình. Chị Nghĩa đã về được quá khứ.
·         Nhà ngoại cảm Đỗ Bá Hiệp có thể dùng mắt trần để tìm kiếm những gì bị chôn sâu trong lòng đất, đoán định được thân xác, hài cốt nào là của thân nhân nào. Không chỉ giúp đỡ các gia đình người Việt Nam, anh sẵn sàng tìm hài cốt những người lính Mỹ đã tử thương trong chiến tranh tại Việt Nam. Anh Hiệp đã về được quá khứ.
·        Rất nhiều nhà ngoại cảm khác: Đoàn Việt Tiến, Nguyễn Thị Nghi, Nguyễn Thị Nguyện, Nguyễn Văn Liên… đang từng ngày tận tụy cống hiến khả năng kỳ diệu của mình cho những công việc đầy tính nhân đạo.
Cho đến nay, khoa học vẫn chưa thể giải thích được nguồn gốc của những bí ẩn của các nhà ngoại cảm Việt Nam. Khả năng kỳ diệu đến với Phan Thị Bích Hằng sau một lần thoát chết, Nguyễn Thị Nghi "bắt được" sự thần bí sau khi kết thúc một trận ốm thập tử nhất sinh, còn với anh Đoàn Việt Tiến thì chỉ bằng cách tự rèn luyện mà nên, kiên trì nghiên cứu mà có. Dù mỗi người có những câu chuyện bí ẩn khác nhau nhưng khả năng thần kỳ của họ đã được thực tế chứng minh từ nhiều năm nay. Đó là những điều khó tin đối với con người bình thường nói chung, nhưng lại là niềm tin vô hạn đối với người khác, với những ai tin rằng khả năng của con người là vô cùng vô tận.

3.3.         Nhà tiên tri Vanga nhìn thấy cả quá khứ, hiện tại và tương lai:

Vanga (Bulgaria) (31/01/1911-11/08/1996) có tên khai sinh là Vangelia Pandeva Dimitrova. Bà là người mù chữ hoặc bán biết chữ. Với khả năng phi thường của mình, bà đã biết đến sự tồn tại của nhiều sinh vật vô hình, nhưng bà không thể giải thích rõ nguồn gốc của chúng. Bà nói rằng chính những sinh vật này đã cung cấp thông tin về mọi người cho bà. Theo Vanga, cuộc sống của mỗi người đứng trước mặt bà như một cuốn phim từ lúc sinh ra cho tới lúc chết. Nhưng thay đổi "những gì được viết trong dòng thời gian" là một điều vượt quá khả năng của bà. Bà được cho là đã báo trước sụp đổ của Liên bang Xô ViếtThảm hoạ Chernobyl, chiến thắng trong cuộc bầu cử của Boris Yeltsin, ngày Stalin chết, sự chìm của con tàu Nga Kursk, và chiến thắng của Topalov trong giải thi đấu cờ vua thế giới.[5] Vanga cố gắng tiên đoán sự ra đời của những đứa trẻ chưa được sinh ra. Bà nói rằng bà đã "nhìn thấy" và "nói chuyện" với những người đã chết trước đó hàng trăm năm. Vanga nói về tương lai, mặc dù bà không thích điều đó. Theo cách nói của bà, 200 năm nữa con người sẽ liên lạc được với những người anh em trong tâm thức từ những thế giới khác. Bà nói rằng nhiều người ngoài hành tinh đã sống trên Trái Đất từ lâu. Họ đến từ các hành tinh mà theo ngôn ngữ của họ gọi là Vamfim.

3.4.         Cuộc gặp gỡ ở chiều không gian thứ 4

Em gái 13 tuổi Theodona đã gặp với người ngoài trái đất trong hai trận cuồng phong xảy ra năm 1998 ở một làng nhỏ thuộc ngoại ô thành phố Shoumen (Bulgaria). Theo lời các cụ già trong làng, đó là hai trận cuồng phong kỳ lạ chưa từng có. Đất đá rung chuyển, nhưng không phải động đất, bởi động đất phải xảy ra trên một vùng rộng lớn chứ không phải chỉ trong phạm vi làng. Tuy nhiên, không ai trong làng nhìn thấy gì khác lạ cả. Ngoại trừ Theodona...Theo sự mô tả của bé gái này, các nhà khoa học phỏng đoán, đó phải là cuộc viếng thăm của những cư dân ngoài trái đất, khi họ sử dụng phi thuyền dạng đĩa bay, có tốc độ rất lớn tương đương tốc độ ánh sáng (300.000 km/s) đáp xuống làng. Theodona kể: "đám người lạ có nhiều hình thù khác nhau, có người giống như người Bulgaria với vóc dáng rất đẹp như thiên thần, nhưng không ít người diện mạo dữ dằn như quỷ...".Nhà khoa học vũ trụ Nga Valentin Phomenko đã sang Bulgaria tìm hiểu về "chuyện của cô học trò nhỏ vùng Shoumen". Sau một thời gian nghiên cứu, ông kết luận: "Bé gái Theodona thật sự có năng lực giao tiếp và nhìn rõ những các sinh vật lạ từ bên ngoài vũ trụ ".Theo Phomanko, điều đó có liên quan đến một năng lực đặc biệt, “giúp Theodona đi vào thế giới thế giới 4 chiều đầy bí ẩn, vì vậy em đã nhìn thấy những hình ảnh mà người khác không thấy được".

 

Phần 4: CẢM NHẬN CỦA TÁC GIẢ VỀ VẤN ĐỀ NÀY

1.    Chuyên đề "Thế giới vô hình" là vấn đề đáng để cho chúng ta quan tâm vì đây là khoa học của tương lai.
2.    Tôi mong rằng khi vào được nó, người ta sẽ thấy thuyết nhân quả được chứng minh ngày càng rõ hơn. Nhờ đó mà cái thiện được khuyếch trương và cái ác sẽ ít xảy ra do con người đã nhìn thấy hậu quả của những việc làm sai trái sẽ phải trả giá ở tương lai như thế nào. Một hình thức răn dạy mà tôi tâm đắc nhất.
3.     Muốn vào được cõi vô hình phải làm chủ được Không - thời gian 4 chiều.
4.    Tôi tin là sẽ có  không gian 4 chiều và n chiều.
5.    Không ai cấm được chúng ta tin hay không tin vào một việc nào đó. Chỉ có ta mới biết phải tin hay không.