Translate

Thứ Ba, 26 tháng 8, 2014

THẾ GIỚI VÔ HÌNH


Tôi rất tâm đắc nhất nội dung: "Thế giới vô hình có hay không?" và đã trăn trở nhiều lần viết hay không. Sau khi nghiên cứu suy nghĩ, tôi xin trình bày những hiểu biết và suy nghĩ của mình về vấn đề này. Đây là thế giới có đặc tính thời gian rất đặc biệt với sự tồn tại đồng thời cả quá khứ, hiện tại và tương lai.

·       Nếu hiểu quá khứ qua lăng kính hiện tại sẽ có sự sai lệch vì điều kiện lịch sử khác nhau, do đó sẽ có những cách đánh giá, kinh nghiệm và kết quả khác nhau về những việc đã xảy ra.
·       Nếu tìm cách tiếp cận tương lai từ hiện tại, hiện nay, không có cách nào khác là phải nghiên cứu các quy luật trong quá khứ và từ quy luật này suy ra kết quả "Dự kiến" cho tương lai (Dựa trên mong muốn là trong tương lai quy luật đó vẫn đúng).
·       Nếu nhìn tương lai bằng đôi mắt của quá khứ, đòi hỏi phải có trí tuệ siêu phàm với trí tưởng tượng rất bay bổng (nhưng vẫn không biết có đúng không !).
Như vậy, yếu tố thời gian với 3 thì: Quá khứ, hiện tại, tương lai là một rào cản cho nhận thức của của chúng ta về Cõi vô hình. Đối với đa số người trên thế giới, quá khứ và tương lai là vô hình. Với một số người khác, ngay cả những việc đang xảy ra ở hiện tại cũng là vô hình vì không cảm nhận được.
Các tôn giáo luôn hướng các đệ tử tránh các tầng địa ngục và hướng tới thiên đường trong tương lai. Sở dĩ có điều đó vì họ tin rằng, ở thế giới sau khi chết, mọi tội lỗi và công lao của con người đều được cân nhắc rõ ràng. Bằng cách hành đạo của mình, các nhà truyền giáo của các tôn giáo luôn tìm cách truyền lòng tin cho các giáo đồ rằng, có thế giới vô hình sau khi chết. Phải chăng những đấng sáng tạo ra những tôn giáo đã đi qua được quá khứ và tương lai để có những hiểu biết về thế giới vô hình rồi mới quay lại trần gian để truyền cho các giáo đồ?

Vậy lý do để nghiên cứu Cõi vô hình có hay không là gì?

Ước vọng cháy bỏng của con người từ nhiều đời nay là: "Chiến thắng được rào cản của thời gian để đi được đến quá khứ và tương lai".
Tại sao việc vào được cõi vô hình lại quan trọng như vậy?  Đó là vì:
·       Khi di chuyển về quá khứ: Ta có thể thay đổi lịch sử.
·       Khi di chuyển về tương lai: Ta có thể thay đổi vận mệnh của cả thế giới.
Hiệu quả có thể nhìn thấy ngay được là : Khi di chuyển 1 con người ốm về quá khứ, ta có thể loại bỏ được các tác nhân gây bệnh cho họ và họ không bị bệnh nữa. Khi một điều bất hạnh xảy ra, ta về quá khứ và chọn cách xử sự khác để không cho bất hạnh có "đất" xảy ra nữa. Thực đáng mừng vì ta có thể tránh được các bất hạnh nhưng cũng thực đáng sợ nếu những kẻ bất lương vào ra được cõi vô hình phải không các bạn ?.
Để làm rõ được nội dung này ta sẽ nghiên cứu các phần sau:

 

Phần 1: CÁC QUAN NIỆM LIÊN QUAN TỚI CÕI VÔ HÌNH

1.1.         Trục thời gian trong cõi vô hình: Hiện tại, quá khứ, tương lai

Trong dòng chảy liên tục của lịch sử quá khứ, hiện tại và tương lai luôn kế tiếp nhau. Không có quá khứ, thì không có hiện tại và chẳng bao giờ có tương lai. Quá khứ là những gì đã đi qua, nhưng đã ghi lại dấu ấn trong lịch sử, nó gắn liền với lịch sử. Nhìn nhận đánh giá quá khứ một cách đúng đắn sẽ cho ta bài học kinh nghiệm quí giá, từ đó giúp chúng ta hành động đúng trong hiện tại và tương lai. Quá khứ thường dùng để chỉ tất cả các sự kiện xảy ra trước một mốc thời gian cho trước. Đối lập với hiện tạitương lai. Khái niệm về quá khứ bắt nguồn từ việc con người nhận thức tính tuyến tính của thời gian, quá khứ được xem xét thông qua trí nhớhồi tưởng. Sau khi phát minh ra ngôn ngữ, con người đã bắt đầu việc lưu trữ quá khứ. Quá khứ là đối tượng của nhiều lĩnh vực như sử học, khảo cổ học, khảo cổ thiên văn học, niên đại, địa chất, lịch sử địa chất, ngôn ngữ học lịch sử, pháp luật, bản thể học, cổ sinh vật học, cổ thực vật học, khảo cổ thực vật học, cổ địa lý học, cổ khí hậu học, và vũ trụ học.
Tương lai được xem là một thuật ngữ mô tả sự kiện một đoạn thời gian sau khi thay đổi, và trái ngược quá khứ. đối với thời gian là một góc độ nhận thức tính tuyến, là một phần thời gian sẽ xảy ra, có nghĩa là, trong không gian nêu trên, sự kiện hiện chưa phát sinh. Tương lai chiếm một vị trí quan trọng trong ngành triết học. Đến nay, sự tiến hóa vĩ đại nhất của con người là khả năng dự đoán trong tương lai cụ thể theo các phạm trù: trừu tượng ,trí tưởng tượng, logiccảm nhận. Trí tưởng tượng cho phép chúng ta quyết định các vấn đề hợp lý và do đó suy giảm nguy cơ xấu có thể xảy ra.
Muốn nhận thức được cõi vô hình phải di chuyển được trên trục thời gian để đi vào quá khứ và tương lai. Đã có nhiều ý kiến cho rằng, con người muốn vào được cõi vô hình phải có những năng lực đặc biệt, đó là:

1.2.         Quan niệm của đạo Phật về cõi vô hình

Phật Giáo coi thế giới chúng ta đang sống không phải là duy nhất và cũng không phải là trung tâm vũ trụ.  Ngoài thế giới chúng ta đang sống còn có rất nhiều thế giới khác.  Phật giáo phân loại các thế giới thành 3 loại: Tiểu Thiên Thế Giới, Trung Thiên Thế Giới, và Đại Thiên Thế Giới.  Danh từ thế giới trong Phật -giáo chỉ một thiên thể (thí dụ như trái đất) hoặc một tập hợp các thiên thể được coi như thuộc một nhóm (thí dụ như thái-duơng-hệ mà trái đất là một hành tinh trong đó).  Vậy, một ngàn thế giới họp thành một Tiểu Thiên Thế Giới, một ngàn Tiểu Thiên Thế Giới họp thành một Trung Thiên Thế Giới, và một ngàn Trung Thiên Thế Giới họp thành một Đại Thiên Thế Giới.  Vậy, lấy đơn vị là một hệ thống tương tự như hệ thống Thái Dương Hệ và gọi là thế giới thì Tiểu Thiên Thế Giới gồm có khoảng  một ngàn thế giới, Trung Thiên Thế Giới gồm khoảng một triệu thế giới , Đại Thiên Thế Giới gồm khoảng một tỷ thế giới v..v.. Đó là quan niệm về vũ trụ của Phật Giáo từ hơn 2500 năm về trước.  Cuộc sống hiện nay xẩy ra rất nhiều các hiện tượng về tâm linh mà theo quan niệm chung của con người là thần bí và kỳ lạ. Khoa học dù có phát triển đến đâu cũng bó tay trước các hiện tượng không theo các quy luật vật lý thông thường nhưng các thuyết lý nhà Phật có thể giải thích các hiện tượng thần bí, ngoại cảm. Những vấn đề mà khoa học phải bó tay dừng lại thì là điểm Phật pháp bắt đầu. Đi sâu vào Phật pháp ta sẽ thấy cõi nhân con người quá là nhỏ bé trong tam thiên đại thiên thế giới. Trong 10 pháp giới, chỉ có cõi người và súc sinh là cõi hữu hình mà chúng ta nhìn thấy được. 8 pháp giới còn lại (địa ngục, ngạ quỷ, atula, trời, thanh văn, duyên giác , bồ tát, Phật) chỉ có thể thấy được thông qua thiền định ở một mức nhất định. Vì cõi người là cõi hữu hình, lại ở trung dung giữa các cõi thiện ác nên nó rất dễ bị tác động bởi các cõi giới vô hình khác .
Phật giáo cho rằng, thế giới mà ta sống đang chịu ảnh hưởng rất nhiều sự tác động của các cõi giới vô hình khác khác. Sau khi qua đời, "Hồn" sẽ chuyển vào một trong 6 cõi tùy theo Nghiệp mà khi còn sống đã tạo nên là:
1. Cõi Trời (chư thiên, thần tiên có phép thuật, hình dáng oai nghiêm hơn con người.
2. Cõi Người (ta bà hay gọi là thế giới loài người):
3. Cõi ATULA (hình dáng không oai nghiêm bằng cõi trời nhưng cũng có phép thuật).
4. Cõi Địa Ngục (cõi âm, cũng là nơi chịu sự trừng phạt, đọa đày, cực hình):
5. Cõi Súc Sinh ( thế giới động vật):
6. Cõi Ngạ Quỷ (nơi bị đọa làm quỷ đói chịu vô lượng khổ):
 Theo các Lạt Ma Tây Tạng thì khi chết linh hồn người chết sẽ chuyển vào cõi giới nào đó và tùy theo tâm thức mà họ thấy được hình dáng, màu sắc sự vật nơi họ đến. Ngoài ra, tùy theo lòng tin vào tôn giáo của mình lúc còn sống họ sẽ thấy cảnh trí trước mắt theo tâm thức riêng của tôn giáo họ đã qua Kinh sách từng đọc.
Cần phải nói rằng, lý thuyết luận về cõi vô hình của các giáo phái là khác nhau và chưa có ai chứng minh lý thuyết nào là đúng.

1.3.         Quan niệm của giới học giả  Việt Nam gần đây

Gs Nguyễn Hoàng Phương trong cuốn sách Tích hợp đa văn hoá Đông Tây cho một chiến lược giáo dục tương lai ( Nguyễn Hoàng Phương, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội - 1996) đã đưa ra quan niệm về Thế giới vô hình theo quan điểm của nhà triết học và thông thiên học nổi tiếng C. Janarajadasa như sau:
 “Đối với thế giới rộng lớn hơn và vô hình đang bao quanh chúng ta, .... có tồn tại một thế giới mà mắt thường không trông thấy (được gọi là vô hình) bao quanh chúng ta ở mọi phía, đi xuyên qua, thấm vào và bao bọc mọi sự vật, một thế giới mà hết sức khó tả. Thế giới này được trông thấy không phải bằng con mắt bình thường của mỗi người. Các con mắt đó (mắt vật lý) dù mở hay nhắm lại đều không có vai trò quan trọng. Hiện tượng nhìn thấy bằng mắt vật lý và hiện tượng trông thấy một cách nội tại là độc lập nhau mặc dù cả hai hiện tượng đó hiện ra đồng thời. Trong khi các con mắt vật lý của chúng tôi nhìn vào mảnh giấy mà chúng tôi đang viết thì cùng lúc cũng có cái gì đó trong bản thân (chúng tôi không biết gọi như thế nào) lại nhìn thấy thế giới vô hình ở bên trên, ở bên dưới và đi xuyên qua tờ giấy, qua cái bàn, qua gian phòng đang ở...
Thế giới vô hình rất sáng và dường như mỗi điểm của thế giới đó có một ánh sáng riêng của nó, nhưng lại không thuộc loại ánh sáng vật lý. Không gian của thế giới này chứa đầy các chuyển động, nhưng lại là một chuyển động hiện ra một cách run rẩy và rất khó tả, gợi ý cho chúng ta quan niệm về một chiều thứ tư nào đó. Với tất cả uy tín mà chúng tôi có được, với lương tâm, ý thức và tất cả những hiểu biết của mình, chúng tôi khẳng định rằng thế giới vô hình còn tồn tại thực hơn cả thế giới vật lý. Mỗi khi chúng tôi nhìn thế giới đó rồi lại nhìn thế giới mà chúng ta đang sống thì chúng tôi thấy thế giới thứ hai này dường như chỉ là một hiện tượng hoàn toàn hoang tưởng, một cái gì đó vô minh và không còn có những phẩm chất cho phép chúng tôi gán cho cái từ có thực. Mỗi khi chúng tôi so sánh thế giới của chúng ta với sự tồn tại mạnh mẽ của các cõi giới vô hình thì tưởng chừng thế giới chúng ta ngỡ ngàng như một giấc mộng.

1.4.         Quan niệm của TS. Stephen William Hawking

Ông là một nhà vật lý người Anh. Sinh ngày 8 tháng 1 năm 1942, tại Oxford, Anh quốc. Tiến sỹ về vũ trụ học, đang làm việc tại đại học Cambridge.
Trong bài giảng của mình về Nguồn gốc của vũ trụ tại Viện Công nghệ California ở Pasadena (Mỹ) Ông cho biết, lĩnh vực chuyên môn nào được dự kiến là sẽ mang lại những đột phá khoa học. Ông Hawking nói với báo Los Angeles Times rằng: "Một mắt xích mà vũ trụ học chưa tìm ra được là bản chất của vật chất tối và năng lượng tối. Vật chất thông thường chỉ chiếm 5%  vũ trụ còn lại 27% là vật chất tối và 67% năng lượng tối”.
Bản chất của năng lượng tối và vật chất tối là một trong những bí ẩn lớn nhất của khoa học hiện đại. Vật chất tối là một chất giả định, lần đầu tiên xuất hiện trong các công trình của những nhà vật lý lý thuyết trong những năm 70 của thế kỷ trước, để giải thích sự phân bố bất thường về tốc độ chuyển động của các ngôi sao và các chất khí trong thiên hà. Kết quả nghiên cứu của họ đã chứng minh rằng chuyển động này xảy ra dưới ảnh hưởng của lực hấp dẫn mạnh, và không thể giải thích được qua các dạng vật chất có thể  nhìn thấy. Vật chất tối làm tăng khối lượng của các thiên hà. Nó không phát ra, không hấp thụ và không phản chiếu ánh sáng. Theo một giả thuyết được thừa nhận, vật chất tối tràn đầy thiên hà hệ Mặt trời và một phần của nó đi qua Trái đất. Năng lượng tối, không thể đo một cách trực tiếp, đang làm vũ trụ giãn nở. Các nhà khoa học tin rằng nếu không có năng lượng tối thì dưới tác động của lực hấp dẫn, vũ trụ sẽ "nổ tung".
Như vậy, Stephen William Hawking cho rằng có  thế giới vật chất vô hình là 1 bộ phận của vũ trụ  và chiếm tới 95%  vũ trụ. Cần lưu ý rằng, đây là ý kiến của một nhà khoa học đang được coi là ông hoàng của vật lý lý thuyết hiện nay của thế giới.

1.5.         Quan niệm của triết học

Chủ nghĩa duy vật, theo triết học, là một hình thức của chủ nghĩa duy vật lí (physicalism) với quan niệm rằng thứ duy nhất có thể được thực sự coi là tồn tạivật chất; rằng, về căn bản, mọi sự vật đều có cấu tạo từ vật chất và mọi hiện tượng đều là kết quả của các tương tác vật chất. Khoa học sử dụng một giả thuyết, đôi khi được gọi là thuyết tự nhiên phương pháp luận, rằng mọi sự kiện quan sát được trong thiên nhiên được giải thích chỉ bằng các nguyên nhân tự nhiên mà không cần giả thiết về sự tồn tại hoặc không-tồn tại của cái siêu nhiên. Với vai trò một học thuyết, chủ nghĩa duy vật thuộc về lớp bản thể học nhất nguyên. Như vậy, nó khác với các học thuyết bản thể học dựa trên thuyết nhị nguyên hay thuyết đa nguyên. Người theo chủ nghĩa duy vật không tin vào sự tồn tại của cõi vô hình.
Chủ nghĩa duy tâm là trường phái triết học khẳng định rằng mọi thứ đều tồn tại bên trong tâm thức và thuộc về tâm thức. Là một nền tảng của ngành vũ trụ học, hay một cách tiếp cập tới hiểu biết về sự tồn tại, chủ nghĩa duy tâm thường được đặt đối lập với chủ nghĩa duy vật, cả hai đều thuộc lớp bản thể học nhất nguyên chứ không phải nhị nguyên hay đa nguyên.
Chủ nghĩa duy tâm có hai khuynh hướng: Chủ nghĩa duy tâm chủ quan phủ nhận sự tồn tại của thế giới khách quan và coi nó là một cái gì đó hoàn toàn do tính tích cực của chủ thể qui định. Chủ nghĩa duy tâm khách quan thừa nhận ý thức, và tinh thần là thuộc tính thứ nhất (có trước), vật chất là thuộc tính thứ hai (có sau). Nó coi tồn tại không phải là tâm thức con người theo như quan niệm của Chủ nghĩa duy tâm chủ quan mà là một tâm thức nào đó ở bên ngoài thế giới như "tinh thần tuyệt đối", "lý tính thế giới", v.v...
Chỉ những người theo chủ nghĩa duy tâm khách quan mới tin là có cõi vô hình.

1.6.         Hiện tượng ngoại cảm tác động không nhỏ vào quan niệm của người Việt Nam về thế giới vô hình.

Hiện tượng đi vào quá khứ để tìm hiểu các thông tin đã xảy ra vói những người đã chết được các nhà ngoại cảm thực hiện nhiều lần. Tại Việt nam, các hiện tượng tâm linh được cho là thần bí và khả năng ngoại cảm của con người có rất nhiều. Việt Nam hiện nay có khoảng hơn 100 người được cho là có khả năng ngoại cảm. Trong số đó chỉ có khoảng hơn 10 người là có khả năng liên tục và ổn định. Số còn lại thường lúc có lúc mất. Đến nay người ta vẫn chưa biết vì sao một con người chưa trải qua tu hành mà đã đạt được khả năng này? Vì sao khả năng này lại lúc có, lúc không?. Do các nhà ngoai cảm có thể lấy thông tin từ quá khứ (cõi vô hình) và đã có người mô tả lại quá trình này trên các phương tiện thông tin đại chúng nên họ là những người có nhận thức và năng lực hành vi để chứng minh được rằng: Thế giới vô hình là có thật.

Phần 2: SỰ LIÊN QUAN CỦA THỜI GIAN ĐẾN CÕI VÔ HÌNH

2.1. Ý tưởng quay về quá khứ của nhà bác học ArBert EinsTein:

Khi đưa vào không gian một chiều nữa và được gọi là không thời gian gồm ba chiều không gian và một chiều thời gian, nhà bác học AlBert EinsTein đã làm đảo lộn mọi suy nghĩ bình thường của chúng ta. Thuyết tương đối rộng của Ông nói rằng, khối lượng làm cong không gian và thời gian, và dẫn đến một hệ quả là: Giả sử chúng ta ngồi trên chiếc phi thuyền đi nhanh hơn vận tốc ánh sáng thì ta sẽ đuổi kịp quá khứ và sinh ra ở tương lai. Hệ quả này sai, nhưng chưa một nhà khoa học nào đủ khả năng chứng minh nó sai.

2.2. Hệ Không-thời gian

Trong cơ học cổ điển, không gianthời gian là 2 khái niệm hoàn toàn riêng biệt. Cùng một sự việc luôn trôi qua trong những khoảng thời gian giống nhau khi quan sát trong các hệ quy chiếu khác nhau. Các sự việc này có thể được làm đồng bộ bằng việc dùng chung một đồng hồ đo thời gian tuyệt đối.
Trong mô hình thuyết tương đối hẹp của Albert Einstein, thời gian diễn ra của cùng một sự việc là dài hay ngắn phụ thuộc vào lựa chọn hệ quy chiếu. Cách mô tả các sự việc được thực hiện chính xác trên một hệ thống hình học được sáng tạo bởi Hermann Minkowski, ở đó không gian và thời gian được xem xét là một cặp. Đây là hình học Minkowski, nơi một sự kiện được nhận dạng bằng một thế giới điểm của 4 chiều không-thời gian liên tục.
Chiều thời gian thường được đặt là ct với ctốc độ ánh sáng, tthời gian, để có cùng thứ nguyên với các chiều không gian. Tuy nhiên chiều thời gian là một chiều đặc biệt và ct không hoàn toàn giống các chiều không gian khác.

2.4. Không thời gian cong

Trong lý thuyết tương đối rộng, không thời gian có thể cong. Sự cong của không thời gian gây ra bởi sự có mặt của vật chất, được nêu trong phương trình Einstein. Các không thời gian cong được đặc trưng bởi tenxơ mêtric của không thời gian, nghiệm của phương trình Einstein sẽ cho biết một sự sắp đặt của vật chất. Một số không thời gian cong ứng với các trường hợp đặc biệt có thể kể đến là mêtric Schwarzschild, mêtric Reissner-Nordström hay mêtric Kerr. Mêtric Schwarzschild mô tả chân không quanh một hành tinh, ngôi sao hay một hố đen không quay và không tích điện, và là ví dụ đơn giản nhất về không thời gian quanh hố đen. Khi không có vật chất, lời giải phương trình Einstein trở về không thời gian phẳng như trong lý thuyết tương đối hẹp.

2.5. Sự kiện, vũ trụ tuyến, thời gian riêng và đường trắc địa

Trong không thời gian, mỗi một điểm gọi là một sự kiện (do xảy ra tại một thời điểm và vị trí xác định).
Bình phương khoảng cách giữa hai sự kiện trong không thời gian, s2, có thể lớn hơn hay nhỏ hơn 0 và khiến cho khoảng cách giữa hai sự kiện được chia làm 3 loại:
1.    Kiểu thời gian: s2 <0
2.    Kiểu ánh sáng: s2 = 0
3.    Kiểu không gian: s2 > 0
Giữa hai sự kiện có nhiều đường nối, nhưng đường nối ngắn nhất gọi là đường trắc địa.
Trong cả hai lý thuyết tương đối, một vật thể trong không thời gian đi theo vũ trụ tuyến hướng từ quá khứ tới tương lai. Vũ trụ tuyến của hạt photon là đường nối giữa các sự kiện liên tục có khoảng cách kiểu ánh sáng (s2 = 0); vũ trụ tuyến của các vật thể có khối lượng có kiểu thời gian. Khoảng cách giữa hai sự kiện trên một vũ trụ tuyến còn gọi là thời gian riêng, thời gian giữa hai sự kiện đo được bởi một quan sát viên đi theo vũ trụ tuyến này từ sự kiện này tới sự kiện kia.
Trong lý thuyết tương đối rộng, vật thể chuyển động theo quán tính đi theo đường trắc địa kiểu thời gian.
Kết luận: Nếu tất cả các ngoại lực tác động một lực đủ lớn làm chu kỳ bất kỳ của vật thể liên tiếp thay đổi đường thẳng gốc và quỹ đạo gốc, tạo ra không thời gian cong. Không thời gian cong khi và chỉ khi các ngoại lực tác động một lực đủ lớn làm cho chu kỳ bất kỳ của vật thể liên tiếp thay đổi các góc Alpha+n so với đường thẳng gốc và quỹ đạo gốc.Trên một đường thẳng hoặc một quỹ đạo bất kỳ, nếu ánh sáng chuyển động theo một chu kỳ nhất định hoặc sau mỗi một chu kỳ nó lại đi ngang qua điểm xuất phát thì khi đó không tồn tại không thời gian cong. Như vậy, so với lý thuyết hiện tại cho dù có sự có mặt của vật chất vẫn khó có khả năng xuất hiện không thời gian cong.
Nếu có một không thời gian cong với độ cong đủ lớn, giống như độ cong của 1 ống hình trụ  thì người ta có thể có thể làm cho thời điểm quá khứ gặp thời điểm hiện tại. Ta  sẽ lấy được thông tin của quá khứ như các nhà ngoại cảm đã làm.

2.6. Vai trò, vị trí của con người trong Thế giới vô hình

Trong thực tế không có một thuyết chuẩn nào về nguồn gốc sự sống và loài người trong vũ trụ này. Tuy nhiên, những thuyết được người ta chấp nhận nhiều nhất đều được xây dựng trên một số những phát hiện về cấu trúc phân tửtế bào,  gồm những luận điểm: Ở những điều kiện thích hợp, những vật chất không sống có thể tạo nên những phần cấu tạo nên tế bào sống, như amino acid. Điều này đã được chứng minh qua thí nghiệm Urey-Miller do Stanley L. MillerHarold C. Urey vào năm 1953. Một số nguồn khác tạo thành các hợp chất hữu cơ phức tạp từ những yếu tố từ ngoài Trái Đất như các thiên thạch.  Con người trong vũ trụ và trái đất này là vô cùng nhỏ bé. Nhưng với những đặc thù riêng của mình, con người vẫn đang cố gắng luận giải về sự hình thành vũ trụ và qua đó luận giải về sự tồn tại của mình. Đã có nhiều thuyết về vấn đề "Vũ trụ đã được hình thành như thế nào?". Đó là: Thuyết Big Bang (hay còn gọi là vụ nổ lớn)Thuyết “Vô thủy vô chung” 
Nhìn chung, hai luận thuyết hình thành nên vũ trụ, mà các nhà khoa học trên thế giới nêu ra đều chưa có tính thuyết phục hoàn toàn.Nhưng thuyết “Big Bang”, rất được sự ủng hộ của các nhà khoa học hiện nay. Cả 2 thuyết này đều không lý giải được vì sao lại có các vụ nổ,  do đó chưa thuyết nào giải thích được có thế giới  vô hình hay không.

2.7. Bàn luận về việc thế giới  vô hình có hay không?

Quan điểm 1: Bí ẩn vẫn mãi là bí ẩn

Dù là gì đi nữa, bộ não của chúng ta cũng chưa bao giờ được rèn luyện để nhìn thấy bất cứ điều gì khác nằm ngoài thế giới nơi chúng ta đang sống. Để hiểu được chiều không gian thứ 4, bạn phải được nhìn thấy nó và cảm nhận nó, cho nên:  Nhiều truyền thuyết cho rằng, chiều không gian thứ 4 là nơi các linh hồn cư ngụ, bởi chúng không còn chịu tác động bởi bất cứ một quy luật vật lý nào. Trong thuyết tương đối của mình, Einstein đã đồng nhất thời gian với chiều không gian thứ 4, nhưng điều này cũng gây nhiều tranh cãi, bởi không gian và thời gian là 2 thứ không thể tách rời. Từ lâu, thời gian và không gian luôn được xem như một miền liên tục thống nhất, bất cứ thay đổi nào ở phía thời gian sẽ tác động lên không gian, và ngược lại. Tuy nhiên, Einstein đã bác bỏ điều này thông qua việc chỉ ra một yếu tố có khả năng bẻ cong mối tương quan giữa không gian và thời gian – đó chính là trọng lực.
 Nhiều nhà nghiên cứu đã sử dụng ý tưởng của Einstein nhằm mục đích du hành xuyên thời gian. Chúng ta có thể di chuyển tới bất cứ đâu, với bất cứ phương hướng nào trong thế giới 3D, nhưng chúng ta lại chỉ có thể di chuyển xuôi dòng theo chiều thời gian. Nhiều nhà khoa học vẫn nuôi hi vọng tìm ra các lỗ sâu giúp kết nối giữa các vùng khác nhau trong miền không gian-thời gian.
Lý do gì mà mặc dù chúng ta không thể dùng chiều không gian thứ 4 này cho việc du hành xuyên thời gian, và không nhìn thấy chiều không gian này, nhưng vẫn mất công sức tìm hiểu về nó? Đó là vì: việc hiểu biết về các chiều không gian rộng lớn hơn là vô cùng quan trọng cho việc hiểu rõ hơn về thế giới.

Quan điểm 2: Kẽ hở của không gian 4 chiều là đường vào thế giới vô hình ?

Để giải thích các vấn đề trên, các nhà khoa học cho rằng không gian có thể có nhiều hơn ba chiều (bốn chiều, năm chiều...).
·        Những người đã gặp được người hành tinh khác có liên quan đến một năng lực đặc biệt, giúp họ đi vào thế giới không gian bốn chiều bí ẩn, vì thế họ đã nhìn thấy những hình ảnh mà người khác không nhìn thấy được.
·          Theo các nhà khoa học, bộ não của con người bình thường không thể tưởng tượng được không gian bốn chiều. Nhưng, những điều thần bí đôi khi cũng đến với các sinh vật ở không gian hai chiều. Ví dụ, thời gian cần thiết để chúng vượt qua khoảng cách từ A đến B trên mặt phẳng (không gian hai chiều) khoảng chục năm. Nhưng vì một biến cố nào đó, mặt phẳng kia bị cong lại trong không gian ba chiều, khiến điểm A và điểm B gần nhau hơn, thậm chí trùng lên nhau thì có ngay điều kì diệu  là: Thời gian hàng chục năm để đi từ A đến B đạt được chỉ ngắn bằng giây lát.
·         Không gian ba chiều nằm trong cái nôi của không gian bốn chiều (như không gian hai chiều nằm trong không gian ba chiều). Những ai có khả năng xâm nhập vào chiều không gian thứ tư, thì đối với họ khoảng cách hàng vạn km, thậm chí hàng vạn năm ánh sáng không còn ý nghĩa gì. Họ vượt qua trong phút chốc bằng cách đi qua “ khe hở” của chiều thứ tư này. "Khe hở" đó là biên giới ngăn cách hai thế giới: Thế giới của không gian ba chiều và thế giới của không gian bốn chiều. Đó chính là cơ hội để những sinh vật cấp thấp xâm nhập vào chiều thứ tư, như những người trên trái đất đã gặp người hành tinh khác.Phải chăng, khi luyện tập xuất thần, những nhà tu hành đã tạo ra được "Khe hở" này?
·         Để chứng minh sự tồn tại của chiều không gian thứ tư, các nhà khoa học Mỹ dự định thí nghiệm để chỉ ra sự thay đổi này của lực hấp dẫn để có thể kết luận rằng có chiều không gian thứ tư. Các nhà khoa học hi vọng trong tương lai gần, các thí nghiệm này sẽ được thực hiện. Nếu thí nghiệm thành công, thì đây là một sự kiện chấn động vì nó sẽ khẳng định sự tồn tại của chiều không gian thứ tư.
Quan điểm 4: Vũ trụ trong hệ toạ độ 11 chiều của Stephen Hawking giải thích được hiện tượng linh cảm
          Nhà vật lí người Anh Stephen Hawking (đã giới thiệu phần trước )mới phát triển ra một mô hình vũ trụ từ những công thức toán học tỉ mỉ. Những phát kiến mới này của Hawking dường như làm đảo lộn quan điểm khoa học truyền thống và được trình bày bằng thuyết M.  Thuyết này được coi là tổng hợp của thuyết lượng tử và thuyết tương đối, được gọi là "thuyết lượng tử hấp dẫn". Theo Hawking thuyết này cung cấp và lí giải chính xác về bản chất của vũ trụ. Khi phát triển thuyết M, Hawking tin rằng đã đạt được những thành tựu có tính bước ngoặt, dựa trên nền tảng của một lí thuyết rất nổi tiếng trong những năm gần đây Thuyết dây.
 Với "thuyết lượng tử hấp dẫn" của mình, Hawking đã tính ra vũ trụ của chúng ta được hình thành từ 11 chiều. Nhưng chỉ có ba chiều không gian và một chiều thời gian đã mở, còn bảy chiều kia bị cuộn lại từ sau vụ nổ lớn.
Lí thuyết trên của Hawking đang gây ra nhiều tranh cãi lớn, vì nhà vật lí này cho rằng có thể giải thích được hiện tượng "linh cảm" một cách khoa học bằng thuyết M: Trong mô hình vũ trụ này, cùng lúc tồn tại vô số nhữngcon người khác nhau trong một con người. Và cùng lúc, tất cả thông tin về vũ trụ ở mọi thời đại đều hiện hữu. Vì thế, hiện tượng "linh cảm" có thể giải thích bằng việc một con người nào đó trong bạn đã trải nghiệm điều mà bạn sẽ trải qua, và mách bảo cho bạn biết trước điều đó.
Quan điểm 4:   Mô hình toàn đồ và bảy nguyên lý về bản chất của thực tại
Khi đi vào thời kỳ của toàn đồ, chúng ta phải chuẩn bị cho nhiều sự đổi thay. Thời kỳ này dựa trên bảy nguyên lý căn bản về bản chất của thực tại.
 Nguyên lý 1: Ý thức là thực tại căn bản
 Nguyên lý 2: Mọi thứ đều gắn với cái toàn thể
 Nguyên lý 3: Mỗi yếu tố chứa đựng tất cả
 Nguyên lý 4: Thời gian cũng là toàn đồ
 Nguyên lý 5: Nét cá thể và năng lượng là điều thiết yếu cho vũ trụ
 Nguyên lý 6: Cái toàn thể lớn hơn sự cộng lại của từng yếu tố
 Nguyên lý 7: Ý thức sáng tạo ra thực tại và trải nghiệm bản thân của thực tại

Kết luận: Người ta đang chứng minh thế giới vật chất cũng có vô hình và hữu hình. Thế giới vô hình tâm linh cũng đang được chứng minh là có thật khi các nhà ngoại cảm có thể lấy được thông tin từ quá khứ và các nhà vật lý lý thuyết tìm được cách lý giải hiện tượng này bằng mô hình toán Không - Thời gian.

Phần 3: NHỮNG SỰ VIỆC CHƯA LÝ GIẢI ĐƯỢC

3.1.         Xuyên qua thời gian bằng 6 loại Thần thông của Phật giáo

Thần thôngsức mạnh tâm linh, đạt được do thiền định hay do tu tập một pháp môn nào đó. Thần thông đầy đủ nhất là lục thông. Các nhà triết học duy vật, và hầu hết các nhà khoa học đều cho rằng, vật chất quyết định ý thức. Nhưng khi có thần thông thì ý thức lại quyết định vật chất, thần thông cao cường có thể hô mưa gọi gió, tự tạo ra một cõi không gian khác theo ý mình . Các tôn giáo thường tạo ra thiên đườngđịa ngục cho những tín đồ của mình. Thần thông không phải là cứu cánh, mà chỉ là phương tiện trên con đường học đạo. Muốn có thần thông phải công phu tập luyện mất nhiều thời gian, phải gác bỏ nhiều việc khác để dành giờ cho thần thông. Theo Phật giáo, có các loại thần thông sau:
·        Thân như ý thông, gọi là Thần túc thông: biến hiện tuỳ theo ý muốn, thân có thể bay lên trời, đi trên biển, chui vào trong núi... tất cả mọi động tác đều tuỳ theo ý muốn, không hề chướng ngại.
·        Thiên nhãn thông: nhìn thấy tất cả mọi hình sắc ở gần hay ở xa trong cả thế gian, nhìn thấy mọi hình tướng khổ vui của chúng sinh trong sáu nẻo luân hồi.
·        Thiên nhĩ thông: nghe và hiểu hết mọi âm thanh trong thế gian, nghe và hiểu hết mọi ngôn ngữ của chúng sinh trong sáu nẻo luân hồi.
·        Tha tâm thông: biết hết tất cả mọi ý nghĩ trong tâm của chúng sinh trong lục đạo.
·        Túc mệnh thông,  còn gọi là Túc mệnh minh: biết được kiếp trước của chính bản thân mình và của chúng sinh trong lục đạo, từ một đời, hai đời cho đến trăm ngàn vạn đời trước đều biết rõ, nhớ rõ sinh ra ở đâu, cha mẹ là ai, tên gì, làm gì...
·        Lậu tận thông : lậu tức là kiến hoặc và tư hoặc trong ba cõi. Lậu tận thông là dứt trừ toàn bộ kiến hoặc và tư hoặc trong ba cõi, không còn sinh tử luân hồi trong ba cõi, được giải thoát hoàn toàn.
Chưa ai giải thích được vì sao: Thiền cũng là một công cụ tạo ra những khả năng như thần thông cho con người?. Theo đạo Phật, hành giả nhờ Thiền mà đạt đến một trạng thái sâu lắng của tâm thức, trong đó toàn bộ tâm thức chỉ chú ý đến một đối tượng thiền định thuộc về tâm hay vật. Tâm thức sẽ trải qua nhiều chặng, trong đó lòng tham dục dần dần suy giảm. Một khi hành giả trừ năm chướng ngại (ngũ cái) thì đạt được bốn cõi thiền (tứ thiền định) của sắc giới, đạt Lục thông và tri kiến vô thượng. Tri kiến này giúp hành giả thấy rõ các đời sống trước của mình, thấy diễn biến của sinh diệt và dẫn đến giải thoát mọi lậu hoặc. Trong một ý nghĩa bao quát, Thiền là một trạng thái tâm thức không thể định nghĩa, không thể miêu tả và phải do mỗi người tự nếm trải. Trong nghĩa này thì Thiền không nhất thiết phải liên hệ với một tôn giáo nào cả. Trạng thái tâm thức vừa nói đã được các vị thánh nhân xưa nay của mọi nơi trên thế giới, mọi thời đại và văn hoá khác nhau trực nhận và miêu tả bằng nhiều cách. Đó là kinh nghiệm giác ngộ về thể sâu kín nhất của thực tại, nó vừa là thể của Niết-bàn và vừa của Luân hồi, sinh tử. Vì vậy, Toạ thiền giúp con người khám phá bản thể thật sự của mình. Đó là một dạng thần thông.

3.2.         Nhà ngoại cảm xuyên qua thời gian về quá khứ

·        Những ngày đầu đi tìm mộ đối với Phan Thị Bích Hằng còn nhiều khó khăn vì chị chưa biết “nói chuyện” với người đã khuất mà chỉ “nhìn thấy hình dáng họ với những đặc điểm đáng nhớ. Nhưng từ khi “trò chuyện” được với người đã khuất, nhà ngoại cảm Phan Thị Bích Hằng đã lang thang khắp các ngôi mộ để tìm cách lắng nghe thông điệp của người đi trước nói rồi chỉ dẫn cho thân nhân họ. Chị Hằng đã về được quá khứ
·         Cô Vũ Thị Năm Nghĩa - thường gọi là cô Năm Nghĩa - đã cùng các gia đình tìm được hàng ngàn hài cốt liệt sĩ ở khắp mọi miền đất nước, không quản ngại khó khăn. Tính kiên trì, lòng thiết tha vì nghĩa cử với các liệt sĩ cộng với khả năng kỳ diệu của cô đã giúp đem lại sự thanh thản cho không ít những gia đình trước đây chưa tìm thấy di hài người thân yêu của mình. Chị Nghĩa đã về được quá khứ.
·         Nhà ngoại cảm Đỗ Bá Hiệp có thể dùng mắt trần để tìm kiếm những gì bị chôn sâu trong lòng đất, đoán định được thân xác, hài cốt nào là của thân nhân nào. Không chỉ giúp đỡ các gia đình người Việt Nam, anh sẵn sàng tìm hài cốt những người lính Mỹ đã tử thương trong chiến tranh tại Việt Nam. Anh Hiệp đã về được quá khứ.
·        Rất nhiều nhà ngoại cảm khác: Đoàn Việt Tiến, Nguyễn Thị Nghi, Nguyễn Thị Nguyện, Nguyễn Văn Liên… đang từng ngày tận tụy cống hiến khả năng kỳ diệu của mình cho những công việc đầy tính nhân đạo.
Cho đến nay, khoa học vẫn chưa thể giải thích được nguồn gốc của những bí ẩn của các nhà ngoại cảm Việt Nam. Khả năng kỳ diệu đến với Phan Thị Bích Hằng sau một lần thoát chết, Nguyễn Thị Nghi "bắt được" sự thần bí sau khi kết thúc một trận ốm thập tử nhất sinh, còn với anh Đoàn Việt Tiến thì chỉ bằng cách tự rèn luyện mà nên, kiên trì nghiên cứu mà có. Dù mỗi người có những câu chuyện bí ẩn khác nhau nhưng khả năng thần kỳ của họ đã được thực tế chứng minh từ nhiều năm nay. Đó là những điều khó tin đối với con người bình thường nói chung, nhưng lại là niềm tin vô hạn đối với người khác, với những ai tin rằng khả năng của con người là vô cùng vô tận.

3.3.         Nhà tiên tri Vanga nhìn thấy cả quá khứ, hiện tại và tương lai:

Vanga (Bulgaria) (31/01/1911-11/08/1996) có tên khai sinh là Vangelia Pandeva Dimitrova. Bà là người mù chữ hoặc bán biết chữ. Với khả năng phi thường của mình, bà đã biết đến sự tồn tại của nhiều sinh vật vô hình, nhưng bà không thể giải thích rõ nguồn gốc của chúng. Bà nói rằng chính những sinh vật này đã cung cấp thông tin về mọi người cho bà. Theo Vanga, cuộc sống của mỗi người đứng trước mặt bà như một cuốn phim từ lúc sinh ra cho tới lúc chết. Nhưng thay đổi "những gì được viết trong dòng thời gian" là một điều vượt quá khả năng của bà. Bà được cho là đã báo trước sụp đổ của Liên bang Xô ViếtThảm hoạ Chernobyl, chiến thắng trong cuộc bầu cử của Boris Yeltsin, ngày Stalin chết, sự chìm của con tàu Nga Kursk, và chiến thắng của Topalov trong giải thi đấu cờ vua thế giới.[5] Vanga cố gắng tiên đoán sự ra đời của những đứa trẻ chưa được sinh ra. Bà nói rằng bà đã "nhìn thấy" và "nói chuyện" với những người đã chết trước đó hàng trăm năm. Vanga nói về tương lai, mặc dù bà không thích điều đó. Theo cách nói của bà, 200 năm nữa con người sẽ liên lạc được với những người anh em trong tâm thức từ những thế giới khác. Bà nói rằng nhiều người ngoài hành tinh đã sống trên Trái Đất từ lâu. Họ đến từ các hành tinh mà theo ngôn ngữ của họ gọi là Vamfim.

3.4.         Cuộc gặp gỡ ở chiều không gian thứ 4

Em gái 13 tuổi Theodona đã gặp với người ngoài trái đất trong hai trận cuồng phong xảy ra năm 1998 ở một làng nhỏ thuộc ngoại ô thành phố Shoumen (Bulgaria). Theo lời các cụ già trong làng, đó là hai trận cuồng phong kỳ lạ chưa từng có. Đất đá rung chuyển, nhưng không phải động đất, bởi động đất phải xảy ra trên một vùng rộng lớn chứ không phải chỉ trong phạm vi làng. Tuy nhiên, không ai trong làng nhìn thấy gì khác lạ cả. Ngoại trừ Theodona...Theo sự mô tả của bé gái này, các nhà khoa học phỏng đoán, đó phải là cuộc viếng thăm của những cư dân ngoài trái đất, khi họ sử dụng phi thuyền dạng đĩa bay, có tốc độ rất lớn tương đương tốc độ ánh sáng (300.000 km/s) đáp xuống làng. Theodona kể: "đám người lạ có nhiều hình thù khác nhau, có người giống như người Bulgaria với vóc dáng rất đẹp như thiên thần, nhưng không ít người diện mạo dữ dằn như quỷ...".Nhà khoa học vũ trụ Nga Valentin Phomenko đã sang Bulgaria tìm hiểu về "chuyện của cô học trò nhỏ vùng Shoumen". Sau một thời gian nghiên cứu, ông kết luận: "Bé gái Theodona thật sự có năng lực giao tiếp và nhìn rõ những các sinh vật lạ từ bên ngoài vũ trụ ".Theo Phomanko, điều đó có liên quan đến một năng lực đặc biệt, “giúp Theodona đi vào thế giới thế giới 4 chiều đầy bí ẩn, vì vậy em đã nhìn thấy những hình ảnh mà người khác không thấy được".

 

Phần 4: CẢM NHẬN CỦA TÁC GIẢ VỀ VẤN ĐỀ NÀY

1.    Chuyên đề "Thế giới vô hình" là vấn đề đáng để cho chúng ta quan tâm vì đây là khoa học của tương lai.
2.    Tôi mong rằng khi vào được nó, người ta sẽ thấy thuyết nhân quả được chứng minh ngày càng rõ hơn. Nhờ đó mà cái thiện được khuyếch trương và cái ác sẽ ít xảy ra do con người đã nhìn thấy hậu quả của những việc làm sai trái sẽ phải trả giá ở tương lai như thế nào. Một hình thức răn dạy mà tôi tâm đắc nhất.
3.     Muốn vào được cõi vô hình phải làm chủ được Không - thời gian 4 chiều.
4.    Tôi tin là sẽ có  không gian 4 chiều và n chiều.
5.    Không ai cấm được chúng ta tin hay không tin vào một việc nào đó. Chỉ có ta mới biết phải tin hay không.


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét