Tôi rất tâm đắc nhất nội dung: "Thế giới vô hình có hay không?" và đã trăn trở nhiều lần viết hay không. Sau khi nghiên cứu suy nghĩ, tôi xin trình bày những hiểu biết và suy nghĩ của mình về vấn đề này. Đây là thế giới có đặc tính thời gian rất đặc biệt với sự tồn tại đồng thời cả quá khứ, hiện tại và tương lai.
·
Nếu
hiểu quá khứ qua lăng kính hiện tại sẽ có sự sai lệch vì điều kiện lịch sử khác
nhau, do đó sẽ có những cách đánh giá, kinh nghiệm và kết quả khác nhau về những
việc đã xảy ra.
·
Nếu
tìm cách tiếp cận tương lai từ hiện tại, hiện nay, không có cách nào khác là phải
nghiên cứu các quy luật trong quá khứ và từ quy luật này suy ra kết quả "Dự
kiến" cho tương lai (Dựa trên mong muốn là trong tương lai quy luật đó vẫn
đúng).
·
Nếu
nhìn tương lai bằng đôi mắt của quá khứ, đòi hỏi phải có trí tuệ siêu phàm với
trí tưởng tượng rất bay bổng (nhưng vẫn không biết có đúng không !).
Như vậy, yếu tố
thời gian với 3 thì: Quá khứ, hiện tại, tương lai là một rào cản cho nhận thức
của của chúng ta về Cõi vô hình. Đối với đa số người trên thế giới, quá khứ và
tương lai là vô hình. Với một số người khác, ngay cả những việc đang xảy ra ở
hiện tại cũng là vô hình vì không cảm nhận được.
Các tôn giáo luôn hướng các đệ tử tránh các tầng địa ngục và hướng tới
thiên đường trong tương lai. Sở dĩ có điều đó vì họ tin rằng, ở thế giới sau
khi chết, mọi tội lỗi và công lao của con người đều được cân nhắc rõ ràng. Bằng
cách hành đạo của mình, các nhà truyền giáo của các tôn giáo luôn tìm cách truyền
lòng tin cho các giáo đồ rằng, có thế giới vô hình sau khi chết. Phải
chăng những đấng sáng tạo ra những tôn giáo đã đi qua được quá khứ và tương lai
để có những hiểu biết về thế giới vô hình rồi mới quay lại trần gian để truyền cho
các giáo đồ?
Vậy lý do để nghiên cứu Cõi vô
hình có hay không
là gì?
Ước vọng cháy bỏng
của con người từ nhiều đời nay là: "Chiến thắng được rào cản của thời gian
để đi được đến quá khứ và tương lai".
Tại sao việc vào được cõi vô hình lại quan trọng như vậy? Đó là vì:
·
Khi di chuyển về quá khứ: Ta có thể thay đổi lịch sử.
·
Khi di chuyển về tương lai: Ta có thể thay đổi vận mệnh
của cả thế giới.
Hiệu quả có thể nhìn thấy ngay được là : Khi di
chuyển 1 con người ốm về quá khứ, ta có thể loại bỏ được các tác nhân gây bệnh
cho họ và họ không bị bệnh nữa. Khi một điều bất hạnh xảy ra, ta về quá khứ và
chọn cách xử sự khác để không cho bất hạnh có "đất" xảy ra nữa. Thực đáng
mừng vì ta có thể tránh được các bất hạnh nhưng cũng thực đáng sợ nếu những kẻ
bất lương vào ra được cõi vô hình phải không các bạn ?.
Để làm rõ được nội dung này ta sẽ nghiên cứu các phần sau:
Phần 1: CÁC QUAN NIỆM LIÊN
QUAN TỚI CÕI VÔ HÌNH
1.1.
Trục thời gian trong cõi
vô hình: Hiện tại, quá khứ, tương lai
Trong dòng chảy liên tục của lịch sử quá khứ,
hiện tại và tương lai luôn kế tiếp nhau. Không có quá khứ, thì không có hiện
tại và chẳng bao giờ có tương lai. Quá khứ là những gì đã đi qua, nhưng đã ghi
lại dấu ấn trong lịch sử, nó gắn liền với lịch sử. Nhìn nhận đánh giá quá khứ
một cách đúng đắn sẽ cho ta bài học kinh nghiệm quí giá, từ đó giúp chúng ta
hành động đúng trong hiện tại và tương lai. Quá khứ thường dùng để chỉ
tất cả các sự kiện xảy ra trước một mốc thời gian
cho trước. Đối lập với hiện tại và tương
lai. Khái niệm về quá khứ bắt nguồn từ việc con người nhận thức tính tuyến tính của thời gian, quá khứ được
xem xét thông qua trí nhớ và hồi tưởng. Sau khi phát minh ra ngôn ngữ, con người đã bắt đầu việc lưu trữ
quá khứ. Quá khứ là đối tượng của nhiều lĩnh vực như sử học, khảo cổ
học, khảo cổ thiên văn học, niên đại, địa chất, lịch sử địa chất, ngôn ngữ học lịch sử, pháp
luật, bản thể
học, cổ sinh
vật học, cổ thực vật học, khảo cổ thực vật học, cổ địa
lý học, cổ khí
hậu học, và vũ trụ
học.
Tương lai được xem là một thuật
ngữ mô tả sự kiện một đoạn thời
gian sau khi thay đổi, và trái ngược quá khứ. đối với thời gian là một góc độ nhận thức tính tuyến, là một phần thời gian sẽ xảy
ra, có nghĩa là, trong không gian nêu trên, sự kiện hiện chưa phát sinh.
Tương lai chiếm một vị trí quan trọng trong ngành triết
học. Đến nay, sự tiến hóa vĩ đại
nhất của con người là khả năng dự đoán trong tương lai cụ thể theo các phạm trù: trừu tượng ,trí tưởng tượng, logic và cảm nhận. Trí tưởng tượng cho phép chúng
ta quyết định các vấn đề hợp lý và do đó suy giảm nguy cơ xấu có thể xảy ra.
Muốn nhận thức được cõi vô hình phải di chuyển
được trên trục thời gian để đi vào quá khứ và tương lai. Đã có nhiều ý kiến cho rằng, con
người muốn vào được cõi vô hình phải có những năng lực đặc biệt, đó là:
1.2.
Quan niệm của đạo Phật về
cõi vô hình
Phật Giáo coi thế giới chúng ta đang sống
không phải là duy nhất và cũng không phải là trung tâm vũ trụ. Ngoài thế
giới chúng ta đang sống còn có rất nhiều thế giới khác. Phật giáo phân loại các thế giới thành 3 loại:
Tiểu Thiên Thế Giới, Trung Thiên Thế Giới, và Đại Thiên Thế Giới. Danh từ
thế giới trong Phật -giáo chỉ một thiên thể (thí dụ như trái đất) hoặc một tập
hợp các thiên thể được coi như thuộc một nhóm (thí dụ như thái-duơng-hệ mà trái
đất là một hành tinh trong đó). Vậy, một ngàn thế giới họp thành một Tiểu
Thiên Thế Giới, một ngàn Tiểu Thiên Thế Giới họp thành một Trung Thiên Thế Giới,
và một ngàn Trung Thiên Thế Giới họp thành một Đại Thiên Thế Giới. Vậy, lấy
đơn vị là một hệ thống tương tự như hệ thống Thái Dương Hệ và gọi là thế giới
thì Tiểu Thiên Thế Giới gồm có khoảng một ngàn thế giới, Trung Thiên Thế
Giới gồm khoảng một triệu thế giới , Đại Thiên Thế Giới gồm khoảng một tỷ thế
giới v..v.. Đó là quan niệm về vũ trụ của Phật Giáo từ hơn 2500 năm về trước.
Cuộc sống
hiện nay xẩy ra rất nhiều các hiện tượng về tâm linh mà theo quan niệm chung
của con người là thần bí và kỳ lạ. Khoa học dù có phát triển đến đâu cũng bó
tay trước các hiện tượng không theo các quy luật vật lý thông thường nhưng các
thuyết lý nhà Phật có thể giải thích các hiện tượng thần bí, ngoại cảm. Những
vấn đề mà khoa học phải bó tay dừng lại thì là điểm Phật pháp bắt đầu. Đi sâu
vào Phật pháp ta sẽ thấy cõi nhân con người quá là nhỏ bé trong tam thiên đại
thiên thế giới. Trong 10 pháp giới, chỉ có cõi người và súc sinh là cõi hữu
hình mà chúng ta nhìn thấy được. 8 pháp giới còn lại (địa ngục, ngạ quỷ, atula,
trời, thanh văn, duyên giác , bồ tát, Phật) chỉ có thể thấy được thông qua
thiền định ở một mức nhất định. Vì cõi người là cõi hữu hình, lại ở trung dung
giữa các cõi thiện ác nên nó rất dễ bị tác động bởi các cõi giới vô hình khác .
Phật giáo cho rằng, thế giới mà ta sống đang chịu ảnh hưởng rất nhiều sự tác động của các cõi giới vô hình khác khác. Sau khi qua đời, "Hồn" sẽ chuyển vào một trong 6 cõi tùy theo Nghiệp mà khi còn sống đã tạo nên là:
1. Cõi Trời (chư thiên, thần tiên có phép thuật, hình dáng oai nghiêm hơn con người.
2. Cõi Người (ta bà hay gọi là thế giới loài người):
3. Cõi ATULA (hình dáng không oai nghiêm bằng cõi trời nhưng cũng có phép thuật).
4. Cõi Địa Ngục (cõi âm, cũng là nơi chịu sự trừng phạt, đọa đày, cực hình):
Phật giáo cho rằng, thế giới mà ta sống đang chịu ảnh hưởng rất nhiều sự tác động của các cõi giới vô hình khác khác. Sau khi qua đời, "Hồn" sẽ chuyển vào một trong 6 cõi tùy theo Nghiệp mà khi còn sống đã tạo nên là:
1. Cõi Trời (chư thiên, thần tiên có phép thuật, hình dáng oai nghiêm hơn con người.
2. Cõi Người (ta bà hay gọi là thế giới loài người):
3. Cõi ATULA (hình dáng không oai nghiêm bằng cõi trời nhưng cũng có phép thuật).
4. Cõi Địa Ngục (cõi âm, cũng là nơi chịu sự trừng phạt, đọa đày, cực hình):
5. Cõi Súc Sinh ( thế giới động vật):
6. Cõi Ngạ Quỷ (nơi bị đọa làm quỷ đói chịu vô lượng khổ):
6. Cõi Ngạ Quỷ (nơi bị đọa làm quỷ đói chịu vô lượng khổ):
Theo các Lạt Ma Tây Tạng thì khi chết linh hồn
người chết sẽ chuyển vào cõi giới nào đó và tùy theo tâm thức mà họ thấy được
hình dáng, màu sắc sự vật nơi họ đến. Ngoài ra, tùy theo lòng tin vào tôn giáo
của mình lúc còn sống họ sẽ thấy cảnh trí trước mắt theo tâm thức riêng của tôn
giáo họ đã qua Kinh sách từng đọc.
Cần phải nói rằng, lý
thuyết luận về cõi vô hình của các giáo phái là khác nhau và chưa có ai chứng
minh lý thuyết nào là đúng.
1.3.
Quan niệm của giới học
giả Việt Nam gần đây
Gs
Nguyễn Hoàng Phương trong cuốn sách Tích hợp
đa văn hoá Đông Tây cho một chiến lược giáo dục tương lai ( Nguyễn Hoàng
Phương, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội - 1996) đã đưa ra quan niệm về Thế giới vô hình theo quan điểm của nhà
triết học và thông thiên học nổi tiếng C. Janarajadasa như sau:
“Đối với thế giới rộng lớn hơn và vô hình đang
bao quanh chúng ta, .... có tồn tại một thế giới mà mắt thường không trông thấy
(được gọi là vô hình) bao quanh chúng ta ở mọi phía, đi xuyên qua, thấm vào và
bao bọc mọi sự vật, một thế giới mà hết sức khó tả. Thế giới này được trông thấy
không phải bằng con mắt bình thường của mỗi người. Các con mắt đó (mắt vật lý)
dù mở hay nhắm lại đều không có vai trò quan trọng. Hiện tượng nhìn thấy bằng mắt
vật lý và hiện tượng trông thấy một cách nội tại là độc lập nhau mặc dù cả hai
hiện tượng đó hiện ra đồng thời. Trong khi các con mắt vật lý của chúng tôi
nhìn vào mảnh giấy mà chúng tôi đang viết thì cùng lúc cũng có cái gì đó trong
bản thân (chúng tôi không biết gọi như thế nào) lại nhìn thấy thế giới vô hình ở
bên trên, ở bên dưới và đi xuyên qua tờ giấy, qua cái bàn, qua gian phòng đang ở...
Thế giới vô hình rất sáng và dường như mỗi điểm của thế giới đó có một ánh sáng riêng của nó, nhưng lại không thuộc loại ánh sáng vật lý. Không gian của thế giới này chứa đầy các chuyển động, nhưng lại là một chuyển động hiện ra một cách run rẩy và rất khó tả, gợi ý cho chúng ta quan niệm về một chiều thứ tư nào đó. Với tất cả uy tín mà chúng tôi có được, với lương tâm, ý thức và tất cả những hiểu biết của mình, chúng tôi khẳng định rằng thế giới vô hình còn tồn tại thực hơn cả thế giới vật lý. Mỗi khi chúng tôi nhìn thế giới đó rồi lại nhìn thế giới mà chúng ta đang sống thì chúng tôi thấy thế giới thứ hai này dường như chỉ là một hiện tượng hoàn toàn hoang tưởng, một cái gì đó vô minh và không còn có những phẩm chất cho phép chúng tôi gán cho cái từ có thực. Mỗi khi chúng tôi so sánh thế giới của chúng ta với sự tồn tại mạnh mẽ của các cõi giới vô hình thì tưởng chừng thế giới chúng ta ngỡ ngàng như một giấc mộng.
Thế giới vô hình rất sáng và dường như mỗi điểm của thế giới đó có một ánh sáng riêng của nó, nhưng lại không thuộc loại ánh sáng vật lý. Không gian của thế giới này chứa đầy các chuyển động, nhưng lại là một chuyển động hiện ra một cách run rẩy và rất khó tả, gợi ý cho chúng ta quan niệm về một chiều thứ tư nào đó. Với tất cả uy tín mà chúng tôi có được, với lương tâm, ý thức và tất cả những hiểu biết của mình, chúng tôi khẳng định rằng thế giới vô hình còn tồn tại thực hơn cả thế giới vật lý. Mỗi khi chúng tôi nhìn thế giới đó rồi lại nhìn thế giới mà chúng ta đang sống thì chúng tôi thấy thế giới thứ hai này dường như chỉ là một hiện tượng hoàn toàn hoang tưởng, một cái gì đó vô minh và không còn có những phẩm chất cho phép chúng tôi gán cho cái từ có thực. Mỗi khi chúng tôi so sánh thế giới của chúng ta với sự tồn tại mạnh mẽ của các cõi giới vô hình thì tưởng chừng thế giới chúng ta ngỡ ngàng như một giấc mộng.
1.4.
Quan niệm của TS. Stephen
William Hawking
Ông là một nhà vật lý người Anh. Sinh ngày 8 tháng 1 năm 1942, tại Oxford, Anh quốc. Tiến sỹ về vũ trụ học, đang làm việc tại
đại học Cambridge.
Trong bài giảng của mình về Nguồn gốc của vũ
trụ tại Viện Công nghệ California ở Pasadena (Mỹ) Ông cho biết, lĩnh vực chuyên môn nào được dự kiến
là sẽ mang lại những đột phá khoa học. Ông Hawking nói với báo Los Angeles
Times rằng: "Một mắt xích mà vũ trụ học chưa tìm ra được là bản chất của
vật chất tối và năng lượng tối. Vật chất thông thường chỉ chiếm 5% vũ trụ
còn lại 27% là vật chất tối và 67% năng lượng tối”.
Bản chất của năng lượng tối và vật chất tối
là một trong những bí ẩn lớn nhất của khoa học hiện đại. Vật chất tối là một chất
giả định, lần đầu tiên xuất hiện trong các công trình của những nhà vật lý lý
thuyết trong những năm 70 của thế kỷ trước, để giải thích sự phân bố bất thường về tốc độ
chuyển động của các ngôi sao và các chất khí trong thiên hà. Kết quả
nghiên cứu của họ đã chứng minh rằng chuyển động này xảy ra dưới ảnh hưởng của
lực hấp dẫn mạnh, và không thể giải thích được qua các dạng vật chất có thể nhìn thấy. Vật chất tối
làm tăng khối lượng của các thiên hà. Nó không phát ra, không hấp thụ và không
phản chiếu ánh sáng. Theo một giả thuyết được thừa nhận, vật chất tối tràn đầy thiên hà hệ Mặt trời và một phần của nó đi qua Trái đất. Năng lượng
tối, không thể đo một cách trực tiếp, đang làm vũ trụ giãn nở. Các nhà khoa học
tin rằng nếu không có năng lượng tối thì dưới tác động của lực hấp dẫn, vũ trụ
sẽ "nổ tung".
Như vậy, Stephen William Hawking cho rằng có thế giới vật chất vô hình là 1 bộ phận của vũ
trụ và chiếm tới 95% vũ trụ. Cần lưu ý rằng, đây là ý kiến của một
nhà khoa học đang được coi là ông hoàng của vật lý lý thuyết hiện nay của thế
giới.
1.5.
Quan niệm của triết học
Chủ nghĩa duy vật, theo triết học, là một hình thức của chủ nghĩa duy
vật lí (physicalism) với quan niệm rằng thứ duy nhất có
thể được thực sự coi là tồn
tại là vật chất; rằng, về căn bản, mọi sự vật đều có cấu tạo từ vật chất và mọi hiện
tượng đều là kết quả của các tương tác vật chất. Khoa học sử dụng một giả thuyết,
đôi khi được gọi là thuyết tự nhiên phương pháp luận, rằng mọi sự kiện quan
sát được trong thiên nhiên được giải thích chỉ bằng các nguyên nhân tự nhiên mà không cần giả thiết về
sự tồn tại hoặc không-tồn tại của cái siêu nhiên. Với vai trò một học thuyết, chủ nghĩa duy vật thuộc về lớp bản thể học nhất nguyên. Như vậy, nó khác với các học thuyết bản thể học dựa
trên thuyết nhị
nguyên hay thuyết đa nguyên. Người theo chủ nghĩa
duy vật không tin vào sự tồn tại của cõi vô hình.
Chủ nghĩa duy tâm là trường phái triết học khẳng định rằng mọi thứ đều tồn tại bên trong tâm thức và thuộc về tâm thức. Là một nền tảng của ngành vũ trụ học, hay một cách tiếp cập tới hiểu biết về sự tồn tại, chủ nghĩa duy tâm thường
được đặt đối lập với chủ nghĩa duy
vật, cả hai đều thuộc lớp bản thể học nhất nguyên chứ không phải nhị nguyên hay đa nguyên.
Chủ nghĩa duy tâm có hai khuynh hướng: Chủ nghĩa duy tâm chủ quan phủ nhận sự tồn tại của thế giới khách quan và coi nó là một cái gì đó
hoàn toàn do tính tích cực của chủ thể qui định. Chủ
nghĩa duy tâm khách quan thừa nhận ý thức, và tinh thần là thuộc tính thứ nhất (có trước), vật chất
là thuộc tính thứ hai (có sau). Nó coi tồn tại không
phải là tâm thức con người theo như quan niệm của Chủ nghĩa duy tâm chủ quan mà
là một tâm thức nào đó ở bên ngoài thế giới như "tinh thần tuyệt đối",
"lý tính thế giới", v.v...
Chỉ những người theo chủ nghĩa duy tâm khách quan mới
tin là có cõi vô hình.
1.6.
Hiện tượng ngoại cảm tác
động không nhỏ vào quan niệm của người Việt Nam về thế giới vô hình.
Hiện tượng đi vào quá khứ để tìm hiểu
các thông tin đã xảy ra vói những người đã chết được các nhà ngoại cảm thực
hiện nhiều lần. Tại Việt nam, các hiện tượng tâm linh được cho là thần bí và
khả năng ngoại cảm của con người có rất nhiều. Việt Nam hiện nay có khoảng hơn
100 người được cho là có khả năng ngoại cảm. Trong số đó chỉ có khoảng hơn 10
người là có khả năng liên tục và ổn định. Số còn lại thường lúc có lúc mất. Đến
nay người ta vẫn chưa biết vì sao một con người chưa trải qua tu hành mà đã đạt
được khả năng này? Vì sao khả năng này lại lúc có, lúc không?. Do các nhà ngoai cảm có thể lấy thông tin từ
quá khứ (cõi vô hình) và đã có người mô tả lại quá trình này trên các phương tiện
thông tin đại chúng nên họ là những người có nhận thức và năng lực hành vi để
chứng minh được rằng: Thế giới vô hình là có thật.
Phần 2: SỰ LIÊN QUAN
CỦA THỜI GIAN ĐẾN CÕI VÔ HÌNH
2.1. Ý tưởng quay về quá khứ của nhà bác học ArBert
EinsTein:
Khi đưa vào không gian một chiều
nữa và được gọi là không thời gian gồm ba chiều không gian và một chiều thời
gian, nhà bác học AlBert EinsTein đã làm đảo lộn mọi suy nghĩ bình thường của
chúng ta. Thuyết tương đối rộng của Ông nói rằng, khối lượng làm cong không
gian và thời gian, và dẫn đến một hệ quả là: Giả sử chúng ta ngồi trên chiếc
phi thuyền đi nhanh hơn vận tốc ánh sáng thì ta sẽ đuổi kịp quá khứ và sinh ra ở
tương lai. Hệ quả này sai, nhưng chưa một nhà khoa học nào đủ khả năng chứng
minh nó sai.
2.2. Hệ Không-thời gian
Trong cơ học cổ điển, không gian và thời gian là 2 khái niệm hoàn toàn riêng biệt. Cùng một sự việc luôn trôi qua trong
những khoảng thời gian giống nhau khi quan sát trong các hệ quy chiếu khác nhau. Các sự việc này có thể được làm đồng bộ bằng việc dùng chung một
đồng hồ đo thời gian tuyệt đối.
Trong mô hình thuyết tương đối
hẹp của Albert Einstein, thời gian diễn ra của cùng một sự việc là dài hay ngắn phụ thuộc vào lựa
chọn hệ quy chiếu. Cách mô tả các sự việc được thực hiện chính xác trên một hệ
thống hình học được sáng tạo bởi Hermann Minkowski, ở đó không gian và thời gian được xem xét là một cặp.
Đây là hình học Minkowski, nơi một sự kiện được nhận dạng bằng một thế giới điểm của 4 chiều
không-thời gian liên tục.
Chiều thời gian thường được đặt là ct với c là tốc độ ánh sáng, t là thời gian, để có cùng thứ nguyên với các chiều không gian. Tuy nhiên chiều thời gian là một chiều đặc biệt và ct không hoàn
toàn giống các chiều không gian khác.
2.4. Không thời gian cong
Trong lý thuyết
tương đối rộng, không thời gian có thể cong.
Sự cong của không thời gian gây ra bởi sự có mặt của vật chất, được
nêu trong phương
trình Einstein. Các không thời gian cong được
đặc trưng bởi tenxơ mêtric của không thời gian, nghiệm của phương trình
Einstein sẽ cho biết một sự sắp đặt của vật chất. Một số không thời gian cong ứng với các trường hợp đặc biệt
có thể kể đến là mêtric Schwarzschild, mêtric Reissner-Nordström hay mêtric
Kerr. Mêtric Schwarzschild mô tả chân không quanh một hành tinh, ngôi sao hay một hố đen không quay và không tích điện, và là ví dụ đơn giản nhất về không thời gian quanh hố đen. Khi không có vật chất, lời giải phương trình Einstein trở
về không thời gian phẳng như trong lý thuyết
tương đối hẹp.
2.5. Sự kiện, vũ trụ tuyến, thời gian riêng và đường trắc
địa
Trong không thời gian, mỗi một điểm gọi là một sự
kiện (do xảy ra tại một thời điểm và vị trí xác định).
Bình phương khoảng
cách giữa hai sự kiện trong không thời gian, s2, có thể lớn hơn hay nhỏ hơn 0 và khiến cho khoảng
cách giữa hai sự kiện được chia làm 3 loại:
1.
Kiểu thời gian: s2 <0
2.
Kiểu ánh sáng: s2 = 0
3.
Kiểu không gian: s2 > 0
Trong cả hai lý thuyết
tương đối, một vật thể trong không thời gian đi theo vũ trụ tuyến hướng từ quá khứ tới tương
lai. Vũ trụ tuyến của hạt photon là đường nối giữa các sự kiện liên tục có khoảng cách kiểu ánh sáng (s2
= 0); vũ trụ tuyến của các vật thể có khối lượng có kiểu thời gian. Khoảng cách
giữa hai sự kiện trên một vũ trụ tuyến còn gọi là thời gian riêng, thời gian giữa hai sự kiện đo
được bởi một quan sát viên đi theo vũ trụ tuyến này từ sự kiện này tới sự kiện
kia.
Trong lý thuyết
tương đối rộng, vật thể chuyển động theo quán tính đi theo đường trắc địa kiểu thời gian.
Kết luận: Nếu tất cả các ngoại
lực tác động một lực đủ lớn làm chu kỳ bất kỳ của vật thể liên tiếp thay đổi đường
thẳng gốc và quỹ đạo gốc, tạo ra không thời gian cong. Không thời gian cong khi
và chỉ khi các ngoại lực tác động một lực đủ lớn làm cho chu kỳ bất kỳ của vật
thể liên tiếp thay đổi các góc Alpha+n so với đường thẳng gốc và quỹ đạo gốc.Trên
một đường thẳng hoặc một quỹ đạo bất kỳ, nếu ánh sáng chuyển động theo một chu
kỳ nhất định hoặc sau mỗi một chu kỳ nó lại đi ngang qua điểm xuất phát thì khi
đó không tồn tại không thời gian cong. Như vậy, so với lý thuyết hiện tại cho
dù có sự có mặt của vật chất vẫn khó có khả năng xuất hiện không thời gian
cong.
Nếu có một không thời
gian cong với độ cong đủ lớn, giống như độ cong của 1 ống hình trụ thì người ta có thể có thể làm cho thời điểm
quá khứ gặp thời điểm hiện tại. Ta sẽ lấy được thông tin của quá khứ như các nhà
ngoại cảm đã làm.
2.6. Vai trò, vị trí của con người trong Thế giới vô hình
Trong thực tế không có một thuyết
chuẩn nào về nguồn gốc sự sống và loài người trong vũ trụ này. Tuy nhiên, những
thuyết được người ta chấp nhận nhiều nhất đều được xây dựng trên một số những
phát hiện về cấu trúc phân tử và tế bào, gồm những luận điểm: Ở những điều kiện thích hợp,
những vật chất không sống có thể tạo nên những phần cấu tạo nên tế bào sống,
như amino acid. Điều này đã được
chứng minh qua thí nghiệm
Urey-Miller do Stanley L. Miller và Harold C.
Urey vào năm 1953. Một số nguồn khác tạo thành các hợp chất hữu cơ phức tạp
từ những yếu tố từ ngoài Trái Đất như các thiên thạch. Con người trong vũ trụ và trái đất này là vô
cùng nhỏ bé. Nhưng với những đặc thù riêng của mình, con người vẫn đang cố gắng
luận giải về sự hình thành vũ trụ và qua đó luận giải về sự tồn tại của mình.
Đã có nhiều thuyết về vấn đề "Vũ trụ đã được hình thành như thế
nào?". Đó là: Thuyết Big Bang (hay còn gọi là vụ nổ lớn) và Thuyết “Vô thủy vô chung”
Nhìn chung, hai luận
thuyết hình thành nên vũ trụ, mà các nhà khoa học trên thế giới nêu ra đều chưa có tính thuyết phục hoàn toàn.Nhưng thuyết “Big Bang”, rất được sự ủng hộ của các nhà khoa học
hiện nay. Cả 2 thuyết này đều không lý giải được vì sao lại có các vụ nổ, do đó chưa thuyết
nào giải thích được có thế giới vô hình hay không.
2.7. Bàn luận về việc thế giới vô hình có hay không?
Quan điểm 1: Bí ẩn vẫn mãi là bí ẩn
Dù là gì đi nữa, bộ não của chúng ta cũng chưa bao giờ được rèn luyện để
nhìn thấy bất cứ điều gì khác nằm ngoài thế giới nơi chúng ta đang sống. Để
hiểu được chiều không gian thứ 4, bạn phải được nhìn thấy nó và cảm nhận nó,
cho nên: Nhiều truyền thuyết cho rằng, chiều không gian thứ 4 là
nơi các linh hồn cư ngụ, bởi chúng không còn chịu tác động bởi bất cứ một quy
luật vật lý nào. Trong thuyết tương đối của mình, Einstein đã đồng nhất thời
gian với chiều không gian thứ 4, nhưng điều này cũng gây nhiều tranh cãi, bởi
không gian và thời gian là 2 thứ không thể tách rời. Từ lâu, thời gian và không
gian luôn được xem như một miền liên tục thống nhất, bất cứ thay đổi nào ở phía
thời gian sẽ tác động lên không gian, và ngược lại. Tuy nhiên, Einstein đã bác
bỏ điều này thông qua việc chỉ ra một yếu tố có khả năng bẻ cong mối tương quan
giữa không gian và thời gian – đó chính là trọng lực.
Nhiều nhà nghiên cứu đã sử dụng ý tưởng của Einstein nhằm mục đích du
hành xuyên thời gian. Chúng ta có thể di chuyển tới bất cứ đâu, với bất cứ
phương hướng nào trong thế giới 3D, nhưng chúng ta lại chỉ có thể di chuyển
xuôi dòng theo chiều thời gian. Nhiều nhà khoa học vẫn nuôi hi vọng tìm ra các
lỗ sâu giúp kết nối giữa các vùng khác nhau trong miền không gian-thời gian.
Lý do gì mà mặc dù chúng ta không
thể dùng chiều không gian thứ 4 này cho việc du hành xuyên thời gian, và không
nhìn thấy chiều không gian này, nhưng vẫn mất công
sức tìm hiểu về nó? Đó là vì: việc hiểu biết về các chiều không gian
rộng lớn hơn là vô cùng quan trọng cho việc hiểu rõ hơn về thế giới.
Quan điểm 2: Kẽ hở của không gian 4 chiều là đường vào thế giới vô hình ?
Để giải thích các vấn đề trên, các nhà khoa học cho rằng không gian có thể
có nhiều hơn ba chiều (bốn chiều, năm chiều...).
·
Những người đã
gặp được người hành tinh khác có liên quan đến một năng lực đặc biệt, giúp họ
đi vào thế giới không gian bốn chiều bí ẩn, vì thế họ đã nhìn thấy những hình
ảnh mà người khác không nhìn thấy được.
·
Theo các nhà khoa học, bộ não của con người
bình thường không thể tưởng tượng được không gian bốn chiều. Nhưng, những điều
thần bí đôi khi cũng đến với các sinh vật ở không gian hai chiều. Ví dụ, thời
gian cần thiết để chúng vượt qua khoảng cách từ A đến B trên mặt phẳng (không
gian hai chiều) khoảng chục năm. Nhưng vì một biến cố nào đó, mặt phẳng kia bị
cong lại trong không gian ba chiều, khiến điểm A và điểm B gần nhau hơn, thậm
chí trùng lên nhau thì có ngay điều kì diệu là: Thời gian
hàng chục năm để đi từ A đến B đạt được chỉ ngắn bằng giây lát.
·
Không gian ba chiều nằm trong cái nôi của
không gian bốn chiều (như không gian hai chiều nằm trong không gian ba chiều).
Những ai có khả năng xâm nhập vào chiều không gian thứ tư, thì đối với họ
khoảng cách hàng vạn km, thậm chí hàng vạn năm ánh sáng không còn ý nghĩa gì.
Họ vượt qua trong phút chốc bằng cách đi qua “ khe hở” của chiều thứ tư này.
"Khe hở" đó là biên giới ngăn cách hai thế giới: Thế giới của không
gian ba chiều và thế giới của không gian bốn chiều. Đó chính là cơ hội để những
sinh vật cấp thấp xâm nhập vào chiều thứ tư, như những người trên trái đất đã
gặp người hành tinh khác.Phải chăng, khi luyện tập xuất thần, những nhà tu hành đã
tạo ra được "Khe hở" này?
·
Để chứng minh sự tồn tại của chiều không gian
thứ tư, các nhà khoa học Mỹ dự định thí nghiệm để chỉ ra sự thay đổi này của
lực hấp dẫn để có thể kết luận rằng có chiều không gian thứ tư. Các nhà khoa
học hi vọng trong tương lai gần, các thí nghiệm này sẽ được thực hiện. Nếu thí
nghiệm thành công, thì đây là một sự kiện chấn động vì nó sẽ khẳng định sự tồn
tại của chiều không gian thứ tư.
Quan điểm 4: Vũ trụ trong hệ toạ độ 11 chiều của Stephen
Hawking giải thích được hiện tượng linh cảm
Nhà vật lí người Anh Stephen Hawking (đã giới thiệu phần trước )mới phát triển ra một mô hình vũ trụ từ
những công thức toán học tỉ mỉ. Những phát kiến mới này của Hawking dường như
làm đảo lộn quan điểm khoa học truyền thống và được trình bày bằng thuyết
M. Thuyết này được coi là tổng hợp của
thuyết lượng tử và thuyết tương đối, được gọi là "thuyết lượng tử hấp
dẫn". Theo Hawking thuyết này cung cấp và lí giải chính xác về bản chất
của vũ trụ. Khi phát triển thuyết M, Hawking tin rằng đã đạt được những thành
tựu có tính bước ngoặt, dựa trên nền tảng của một lí thuyết rất nổi tiếng trong
những năm gần đây là Thuyết dây.
Với "thuyết
lượng tử hấp dẫn" của mình, Hawking đã tính ra vũ trụ của chúng ta được
hình thành từ 11 chiều. Nhưng chỉ có ba chiều không gian và một chiều thời gian
đã mở, còn bảy chiều kia bị cuộn lại từ sau vụ nổ lớn.
Lí thuyết trên của Hawking đang gây ra nhiều tranh cãi lớn, vì nhà vật lí này cho rằng có thể giải thích được hiện tượng "linh cảm" một cách khoa học bằng thuyết M: Trong mô hình vũ trụ này, cùng lúc tồn tại vô số nhữngcon người khác nhau trong một con người. Và cùng lúc, tất cả thông tin về vũ trụ ở mọi thời đại đều hiện hữu. Vì thế, hiện tượng "linh cảm" có thể giải thích bằng việc một con người nào đó trong bạn đã trải nghiệm điều mà bạn sẽ trải qua, và mách bảo cho bạn biết trước điều đó.
Quan điểm 4: Mô hình toàn đồ và bảy nguyên lý về bản chất của thực tại
Lí thuyết trên của Hawking đang gây ra nhiều tranh cãi lớn, vì nhà vật lí này cho rằng có thể giải thích được hiện tượng "linh cảm" một cách khoa học bằng thuyết M: Trong mô hình vũ trụ này, cùng lúc tồn tại vô số nhữngcon người khác nhau trong một con người. Và cùng lúc, tất cả thông tin về vũ trụ ở mọi thời đại đều hiện hữu. Vì thế, hiện tượng "linh cảm" có thể giải thích bằng việc một con người nào đó trong bạn đã trải nghiệm điều mà bạn sẽ trải qua, và mách bảo cho bạn biết trước điều đó.
Quan điểm 4: Mô hình toàn đồ và bảy nguyên lý về bản chất của thực tại
Khi đi vào thời kỳ của toàn đồ,
chúng ta phải chuẩn bị cho nhiều sự đổi thay. Thời kỳ này dựa trên bảy nguyên
lý căn bản về bản chất của thực tại.
Nguyên lý 1: Ý thức là thực
tại căn bản
Nguyên
lý 2: Mọi thứ đều gắn với cái toàn thể
Nguyên lý 3: Mỗi yếu tố
chứa đựng tất cả
Nguyên lý 4: Thời gian
cũng là toàn đồ
Nguyên lý 5: Nét cá thể
và năng lượng là điều thiết yếu cho vũ trụ
Nguyên lý 6: Cái toàn thể
lớn hơn sự cộng lại của từng yếu tố
Nguyên lý 7: Ý thức sáng
tạo ra thực tại và trải nghiệm bản thân của thực tại
Kết luận: Người ta
đang chứng minh thế giới vật chất cũng có vô hình và hữu hình. Thế giới vô hình
tâm linh cũng đang được chứng minh là có thật khi các nhà ngoại cảm có thể lấy
được thông tin từ quá khứ và các nhà vật lý lý thuyết tìm được cách lý giải hiện
tượng này bằng mô hình toán Không - Thời gian.
Phần 3: NHỮNG SỰ VIỆC
CHƯA LÝ GIẢI ĐƯỢC
3.1.
Xuyên qua thời gian bằng 6 loại Thần thông của Phật giáo
Thần thông là sức mạnh tâm linh, đạt được do thiền định hay do tu tập một pháp môn nào đó. Thần thông đầy đủ nhất
là lục
thông. Các nhà triết
học duy vật, và hầu hết các nhà khoa học đều cho rằng, vật chất quyết định ý thức. Nhưng khi có thần thông thì ý
thức lại quyết định vật chất, thần thông cao cường có thể hô mưa gọi gió, tự tạo ra
một cõi không
gian khác theo ý mình . Các tôn giáo thường tạo ra thiên
đường và địa ngục cho những tín đồ của mình. Thần thông không
phải là cứu cánh, mà chỉ là phương tiện trên con đường học đạo. Muốn có thần
thông phải công phu tập luyện mất nhiều thời gian, phải gác bỏ nhiều việc khác
để dành giờ cho thần thông. Theo Phật
giáo, có các loại thần thông sau:
·
Thân như ý thông, gọi
là Thần túc thông: biến hiện tuỳ theo ý muốn, thân có thể bay lên trời, đi trên
biển, chui vào trong núi... tất cả mọi động tác đều tuỳ theo ý muốn, không hề
chướng ngại.
·
Thiên nhãn thông: nhìn
thấy tất cả mọi hình sắc ở gần hay ở xa trong cả thế gian, nhìn thấy mọi hình
tướng khổ vui của chúng sinh trong sáu
nẻo luân hồi.
·
Thiên nhĩ thông: nghe
và hiểu hết mọi âm thanh trong thế gian, nghe và hiểu hết mọi ngôn ngữ của
chúng sinh trong sáu nẻo luân hồi.
·
Tha tâm thông: biết hết tất cả mọi ý
nghĩ trong tâm của chúng sinh trong lục
đạo.
·
Túc mệnh thông, còn gọi
là Túc mệnh minh: biết được kiếp trước của chính bản thân mình và của chúng
sinh trong lục đạo, từ một đời, hai đời cho đến trăm ngàn vạn đời trước đều
biết rõ, nhớ rõ sinh ra ở đâu, cha mẹ là ai, tên gì, làm gì...
·
Lậu tận thông : lậu tức là kiến hoặc và tư hoặc trong ba cõi. Lậu tận thông là dứt trừ
toàn bộ kiến hoặc và tư hoặc trong ba cõi, không còn sinh tử luân hồi trong ba
cõi, được giải thoát hoàn toàn.
Chưa ai giải thích được vì sao: Thiền cũng là một công cụ
tạo ra những khả năng như thần thông cho con người?. Theo đạo Phật, hành giả nhờ Thiền mà đạt đến một trạng
thái sâu lắng của tâm thức, trong đó toàn bộ tâm thức chỉ chú ý đến một đối
tượng thiền định thuộc về tâm hay vật. Tâm thức sẽ trải qua nhiều chặng, trong
đó lòng tham dục dần dần suy giảm. Một khi hành giả trừ năm chướng ngại (ngũ
cái) thì
đạt được bốn cõi thiền (tứ thiền định) của sắc giới, đạt Lục thông và tri kiến vô thượng. Tri kiến
này giúp hành giả thấy rõ các đời sống trước của mình, thấy diễn biến của sinh
diệt và dẫn đến giải thoát mọi lậu hoặc. Trong một ý nghĩa bao quát,
Thiền là một trạng thái tâm thức không thể định nghĩa, không thể miêu tả và
phải do mỗi người tự nếm trải. Trong nghĩa này thì Thiền không nhất thiết phải
liên hệ với một tôn giáo nào cả. Trạng thái tâm thức vừa nói đã được các vị
thánh nhân xưa nay của mọi nơi trên thế giới, mọi thời đại và văn hoá khác nhau
trực nhận và miêu tả bằng nhiều cách. Đó là kinh nghiệm giác ngộ về thể sâu kín
nhất của thực tại, nó vừa là thể của Niết-bàn và vừa của Luân hồi, sinh tử. Vì vậy, Toạ thiền giúp con người khám phá bản thể
thật sự của mình. Đó là một dạng thần thông.
3.2.
Nhà ngoại cảm xuyên qua thời gian về quá khứ
·
Những ngày đầu đi
tìm mộ đối với Phan Thị Bích Hằng còn nhiều khó khăn vì chị chưa biết “nói chuyện”
với người đã khuất mà chỉ “nhìn thấy hình dáng họ với những đặc điểm đáng nhớ.
Nhưng từ khi “trò chuyện” được với người đã khuất, nhà ngoại cảm Phan Thị Bích
Hằng đã lang thang khắp các ngôi mộ để tìm cách lắng nghe thông điệp của người
đi trước nói rồi chỉ dẫn cho thân nhân họ. Chị Hằng đã về được quá khứ
·
Cô Vũ Thị Năm Nghĩa
- thường gọi là cô Năm Nghĩa - đã cùng các gia đình tìm được hàng ngàn hài cốt
liệt sĩ ở khắp mọi miền đất nước, không quản ngại khó khăn. Tính kiên trì, lòng
thiết tha vì nghĩa cử với các liệt sĩ cộng với khả năng kỳ diệu của cô đã giúp
đem lại sự thanh thản cho không ít những gia đình trước đây chưa tìm thấy di
hài người thân yêu của mình. Chị Nghĩa đã về được quá khứ.
·
Nhà ngoại cảm Đỗ Bá
Hiệp có thể dùng mắt trần để tìm kiếm những gì bị chôn sâu trong lòng đất, đoán
định được thân xác, hài cốt nào là của thân nhân nào. Không chỉ giúp đỡ các gia
đình người Việt Nam, anh sẵn sàng tìm hài cốt những người lính Mỹ đã tử thương
trong chiến tranh tại Việt Nam. Anh Hiệp đã về được quá khứ.
·
Rất nhiều nhà ngoại cảm khác: Đoàn Việt Tiến, Nguyễn Thị
Nghi, Nguyễn Thị Nguyện, Nguyễn Văn Liên… đang từng ngày tận tụy cống hiến khả
năng kỳ diệu của mình cho những công việc đầy tính nhân đạo.
Cho đến nay, khoa học vẫn chưa
thể giải thích được nguồn gốc của những bí ẩn của các nhà ngoại cảm Việt Nam.
Khả năng kỳ diệu đến với Phan Thị Bích Hằng sau một lần thoát chết, Nguyễn Thị
Nghi "bắt được" sự thần bí sau khi kết thúc một trận ốm thập tử nhất
sinh, còn với anh Đoàn Việt Tiến thì chỉ bằng cách tự rèn luyện mà nên, kiên
trì nghiên cứu mà có. Dù mỗi người có những câu chuyện bí ẩn khác nhau nhưng khả
năng thần kỳ của họ đã được thực tế chứng minh từ nhiều năm nay. Đó là những điều
khó tin đối với con người bình thường nói chung, nhưng lại là niềm tin vô hạn đối
với người khác, với những ai tin rằng khả năng của con người là vô cùng vô tận.
3.3.
Nhà tiên tri Vanga nhìn thấy cả quá khứ, hiện tại và tương
lai:
Vanga (Bulgaria)
(31/01/1911-11/08/1996) có tên khai sinh là Vangelia Pandeva Dimitrova. Bà là
người mù chữ hoặc bán biết chữ. Với khả năng phi thường của mình, bà đã biết đến
sự tồn tại của nhiều sinh vật vô hình, nhưng bà không thể giải thích rõ nguồn gốc
của chúng. Bà nói rằng chính những sinh vật này đã cung cấp thông tin về mọi
người cho bà. Theo Vanga, cuộc sống của mỗi người đứng trước mặt bà như một cuốn
phim từ lúc sinh ra cho tới lúc chết. Nhưng thay đổi "những gì được viết
trong dòng thời gian" là một điều vượt quá khả năng của bà. Bà được cho là
đã báo trước sụp đổ của Liên bang Xô Viết, Thảm hoạ
Chernobyl, chiến thắng trong cuộc bầu cử của Boris
Yeltsin, ngày Stalin chết, sự chìm
của con tàu Nga Kursk, và chiến thắng của Topalov trong giải thi đấu cờ vua
thế giới.[5] Vanga cố gắng tiên đoán sự
ra đời của những đứa trẻ chưa được sinh ra. Bà nói rằng bà đã "nhìn thấy"
và "nói chuyện" với những người đã chết trước đó hàng trăm năm. Vanga
nói về tương lai, mặc dù bà không thích điều đó. Theo cách nói của bà, 200 năm
nữa con người sẽ liên lạc được với những người anh em trong tâm thức từ những
thế giới khác. Bà nói rằng nhiều người ngoài hành tinh đã sống trên Trái Đất từ
lâu. Họ đến từ các hành tinh mà theo ngôn ngữ của họ gọi là Vamfim.
3.4.
Cuộc gặp gỡ ở chiều không gian thứ 4
Em gái 13 tuổi Theodona đã gặp với người ngoài trái đất trong hai trận
cuồng phong xảy ra năm 1998 ở một làng nhỏ thuộc ngoại ô thành phố Shoumen
(Bulgaria). Theo lời các cụ già trong làng, đó là hai trận cuồng phong kỳ lạ
chưa từng có. Đất đá rung chuyển, nhưng không phải động đất, bởi động đất phải
xảy ra trên một vùng rộng lớn chứ không phải chỉ trong phạm vi làng. Tuy nhiên,
không ai trong làng nhìn thấy gì khác lạ cả. Ngoại trừ Theodona...Theo sự mô tả
của bé gái này, các nhà khoa học phỏng đoán, đó phải là cuộc viếng thăm của
những cư dân ngoài trái đất, khi họ sử dụng phi thuyền dạng đĩa bay, có tốc độ
rất lớn tương đương tốc độ ánh sáng (300.000 km/s) đáp xuống làng. Theodona kể:
"đám người lạ có nhiều hình thù khác nhau, có người giống như người
Bulgaria với vóc dáng rất đẹp như thiên thần, nhưng không ít người diện mạo dữ
dằn như quỷ...".Nhà khoa học vũ trụ Nga Valentin Phomenko đã sang Bulgaria
tìm hiểu về "chuyện của cô học trò nhỏ vùng Shoumen". Sau một thời
gian nghiên cứu, ông kết luận: "Bé gái Theodona thật sự có năng lực giao
tiếp và nhìn rõ những các sinh vật lạ từ bên ngoài vũ trụ ".Theo Phomanko,
điều đó có liên quan đến một năng lực đặc biệt, “giúp Theodona đi vào thế giới
thế giới 4 chiều đầy bí ẩn, vì vậy em đã nhìn thấy những hình ảnh mà người khác
không thấy được".
Phần 4: CẢM NHẬN CỦA
TÁC GIẢ VỀ VẤN ĐỀ NÀY
1.
Chuyên đề "Thế
giới vô hình" là vấn
đề đáng để cho chúng ta quan tâm vì đây là khoa học của tương lai.
2.
Tôi mong rằng khi vào được nó, người ta
sẽ thấy thuyết nhân quả được chứng minh ngày càng rõ hơn. Nhờ đó mà cái thiện
được khuyếch trương và cái ác sẽ ít xảy ra do con người đã nhìn thấy hậu quả
của những việc làm sai trái sẽ phải trả giá ở tương lai như thế nào. Một
hình thức răn dạy mà tôi tâm đắc nhất.
3.
Muốn
vào được cõi vô hình phải làm chủ được Không - thời gian 4 chiều.
4.
Tôi tin là sẽ có không gian 4
chiều và n chiều.
5.
Không ai cấm được chúng ta tin hay không
tin vào một việc nào đó. Chỉ có ta mới biết phải tin hay không.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét