Khi luyện tập về rung động vô thức trị liệu, các
cảm nhận về năng lượng trong cơ thể tuần tự xuất hiện như: nặng nề, nhẹ nhàng,
nóng, lạnh, đau nhức lâm râm, kiến bò, cảm giác mất trọng lực hay cảm tưởng như
bị té ngả, sóng rung động không theo ý muốn trong lúc cơ thể chúng ta chuyển động
vô thức. Ta không để mất ý thức khi vào vô thức để rung động thư giãn và có thể
lắng nghe chính mình. Khi rung động mạnh dần lên, khi ta để nó luân chuyển theo
sự kích thích của rung động thì ta có thể thấy con người thật của chính mình.
Vậy Vô thức là gì?.
Cuối thế kỷ 19, Sigmund Freud (1856-1939), đã đưa ra một phạm trù tư tưởng, một hệ thống phương pháp luận mới về vô thức. Tiền đề vô thức của ông đã thay đổi nhận thức của con người trên chiều hướng tự biết về chính mình. Ông là nhà khoa học mà tên tuổi của ông được đặt bên cạnh những tên tuổi vĩ đại khác như Acsimet, Galile, Isaac Niuton, Anbe Anhstanh. Công lao to lớn của ông là sáng tạo ra học thuyết Phân tâm (Psychoanalysis). Đây là khám phá ra vô thức(unconscious) như một tầng tư duy nền tảng, định hình, định hướng cho mọi hành vi của con người.
Học thuyết Freud có tác động và ảnh hưởng sâu rộng đến rất nhiều lĩnh vực khoa học khác nhau của thế giới ngày nay như tâm lý học, y học, triết học, xã hội học, tội phạm học, văn học nghệ thuật, tôn giáo, giáo dục...Khám phá của Freud được coi là một cuộc cách mạng trong nhận thức về bản chất hành vi con người, khi mà trước đó, người ta vẫn đề cao ý thức và coi ý thức như phần tư duy chủ yếu của con người. Khám phá này đã đem ánh sáng ý thức khai thông những khái niệm của ý chí và động cơ, để điều chỉnh và giải thích những hiện tượng tâm thần tiêu cực cho con người Tây phương. Nói như vậy là vì ở phương Đông, từ rất lâu rồi, Phật giáo cũng đã có một hệ thống phân tâm học đồ sộ với một nền tảng bản thể luận và siêu hình học. Đối với Tây phương thì huyền thoại vô thức đã cống hiến một tri thức luận mới. Thay vì ý thức quyết định sự hữu của con người với công thức của Descartes, thì đối với Freud, vô thức là nền tảng cho ý thức và cái tôi của cá nhân. Trong khi, trước đó, tri thức được Descartes coi là thể thống nhất. Theo Freud, tri thức là một căn nhà bị chia hai: tầng trên của ý thức và tầng dưới vẫn còn đang nằm trong bóng tối. Ý thức chỉ là một tảng băng nổi trên mặt biển - và vô thức là phần ở dưới nước không thấy được. Phần chìm này rất lớn và quyết định tất cả những sinh hoạt và nội dung ý thức. Nó chứa những năng lực với khả năng kiểm soát, với tên gọi là năng lực tính dục, có đặc trưng là muốn thoả mãn bằng mọi phương diện và mọi giá. Với tiền đề vô thức và động cơ tính dục, Freud giải thích được tất cả hiện tượng ý chí, suy tưởng, tâm lý, ham muốn và ý chí hành động - kể cả việc giải thích các giấc mơ.
Những luận thuyết cơ bản của phân tâm học gồm:
1. Hành vi, kinh nghiệm và nhận thức của con người phần lớn được định hình bởi các xung năng bẩm sinh.
2. Những xung năng này mang bản chất vô thức.
3. Qúa trình cố đưa những xung năng này "trồi" lên bề mặt ý thức sẽ gây ra những kháng cự tâm lý, được biểu hiện qua các cơ chế phòng vệ.
4. Bên cạnh những cấu trúc tâm thần mang tính bẩm sinh đó, sự phát triển của một cá nhân còn được định hình bởi những sự kiện thuở ấu thời.
5. Những xung đột giữa ý thức về thực tại với phần vô thức của hệ tâm thần (tạo nên sự dồn nén) có thể là nguồn gốc của những chứng rối nhiễu tâm trí như chứng nhiễu tâm, lo âu, trầm uất, v.v...
6. Phương thức để giải trừ những ảnh hưởng này từ bằng vô thức là đưa các nội dung đó lên bình diện ý thức.
Freud chia bộ máy tư duy của con người theo ba lát cắt khác nhau: Vô thức (unconscius), tiền ý thức (preconscius) và ý thức (conscius). Ý thức là phần tinh thần liên hệ trực tiếp với thế giới bên ngoài. Tiền ý thức là phần tinh thần đi ra từ vô thức nhưng chưa đến được ý thức và do đó chưa trở thành ý thức. Vô thức tách rời hẳn ý thức, nằm sâu trong kết cấu tâm lý con người. Vô thức là nơi tàng trữ các bản năng với bản năng dục vọng là cốt lõi. Những bản năng này chất chứa những năng lượng tâm lý hết sức mãnh liệt, phục tùng nguyên tắc khoái lạc, luôn hướng ra ngoài để tìm cách thể hiện, muốn tiến vào ý thức để được thoả mãn. Có thể coi bộ máy tư duy của con người như một tảng băng trôi, phần nổi nhìn thấy được trên mặt nước là ý thức, chỉ chiếm một phần rất nhỏ của tảng băng; phần chìm dưới nước không nhìn thấy được chiếm phần vô cùng lớn của tảng băng là vô thức ; phần rất nhỏ nằm giáp ranh giữa vô thức và ý thức và vẫn chìm dưới nước là tiền ý thức. Sơ đồ lát cắt của Freud đã xác định rõ vị trí và vai trò của vô thức, tiền ý thức, ý thức trong bộ máy tư duy con người. Học trò của ông - Anthony A.Walsh- đã đưa ra sơ đồ mô hình cấu trúc của thể hiện các phạm trù mà Freud đã nêu ra trong học thuyết của mình gồm 3 thành phần quan trọng là: cái ấy (id), cái tôi (ego), cái siêu tôi(superego).
- Cái ấy (id): Nằm hoàn toàn trong vô thức, nó là phần dưới nước của tảng băng trôi. Cái ấy là thành phần sinh học (biological component) của tư duy. Nó là bản năng tính dục, có ngay từ lúc mới sinh, là năng lượng nguyên thủy của sự sống, Các hành động của nó đều dựa trên nguyên tắc khoái lạc (pleasure principle). Cái ấy tượng trưng cho phần vô thức và thể hiện sự chống đối xã hội của cá nhân. Theo Freud, phạm vi của cái ấy trong vô thức là phần nhân cách tối tăm, không thể đi đến được, nó rất mù quáng và độc ác. Mục đích độc nhất của nó là thỏa mãn các ham muốn bản năng và các khoái cảm trong con người mà không cần biết đến các hậu quả. Nói theo Thomas Mann thì “Nó không biết gì đến giá trị, thiện hay ác và cả đạo đức nữa”.
- Cái tôi (Ego): Nằm ở trên cái ấy, bao hàm cả ý thức, tiền ý thức và một phần vô thức, nó nằm ở phần nổi và một phần chìm của tảng băng trôi, cái tôi là thành phần tâm lý (psychological component) của bộ máy tư duy. Cái tôi, thể hiện cá tính tâm lý của mỗi con người. Cái tôi còn thể hiện trong hoạt động ý thức như tri giác, ngôn ngữ và những hoạt động trí tuệ cho phép kiểm soát kiềm chế hành vi cá nhân trong quan hệ với ngoại cảnh. Cái tôi có thể kìm nén xung đột của cái ấy và kiềm chế khoái lạc. Cái tôi nhận biết được thế giới xung quanh và nhận ra rằng phải kìm hãm những khuynh hướng sai lệch của cái tôi, để ngăn ngừa mọi xung đột với luật lệ xã hội. Như vậy, cái tôi vượt khỏi sự thống nhất sinh vật của thân xác để đạt tới một sự thống nhất cao hơn là sự tự chủ. Cái tôi tượng trưng cho phần ý thức và ý chí của cá nhân.
- Cái siêu tôi (superego): Nằm trong cả ba lát cắt vô thức, tiền ý thức và ý thức, nó nằm cả trong phần chìm và phần nổi của tảng băng trôi. Cái siêu tôi là thành phần xã hội (social component) của bộ máy tư duy. Cái siêu tôi được xem là sự học hỏi của cá nhân về các giá trị và quy tắc xã hội. Nó được coi là mặt lương tâm, đạo đức của cá nhân và cái tôi lý tưởng (ego-ideal). Cái siêu tôi đấu tranh để cho các hành vi được hoàn thiện bằng cách xác định giá trị hành vi hoặc tỏ thái độ đối với hành vi là đúng hay sai. Cái siêu tôi chứa tất cả các tiêu chuẩn đạo đức tiếp nhận được từ cha mẹ và xã hội. Các siêu tôi buộc cái tôi phù hợp không chỉ về thực tế mà còn về lý tưởng của mình về đạo đức. Do đó, cái siêu tôi khiến người ta cảm thấy tội lỗi khi họ đi ngược lại quy tắc của xã hội.
Từ các phạm trù vô thức, tiền ý thức, ý thức, cái ấy, cái tôi, cái siêu tôi, eros và thanatos trong mô hình lát cắt bộ máy tư duy con người của Freud, chúng ta có thể lý giải được rất nhiều nguồn gốc, bản chất sâu xa và động cơ dẫn đến hành vi của con người.
Tác dụng của việc vào được vô thức
Phân tâm học cổ điển của Freud là một phương pháp trị liệu đặc thù, mà người được phân tích (bệnh nhân) sẽ nói ra những ý nghĩ của mình, qua những liên tưởng tự do, những huyễn tưởng và các giấc mơ, từ đó nhà phân tâm sẽ rút ra kết luận về những xung đột vô thức là nguồn gốc đang gây ra các triệu chứng và biểu hiện đặc trưng ở những bệnh nhân, rồi diễn giải chúng cho họ bừng hiểu để từ đó có giải pháp cho những vấn đề của mình. Điểm đặc trưng của liệu pháp phân tâm là phân tách rõ các cơ chế phòng vệ, những ước muốn và cảm giác tội lỗi mang tính bệnh lý của bệnh nhân.
Theo GS.TSKH Đoàn Xuân Mượu, nguyên viện trưởng Viện Văcxin, tác giả cuốn sách "khoa học và vấn đề tâm linh" thì, để gặp lại người thân đã chết, cách duy nhất người sống có thể làm là tìm ra con đường tiếp cận với cõi vô thức của mình.
Bằng cách tập luyện trong vô thức kết hợp với lắng nghe chính mình, Ta sẽ phát hiện được những nhược điểm của mình và biết mình phải làm gì để tu tâm dưỡng tính, trở thành con người hoàn thiện. Nói ngắn gọn là tập luyện trong vô thức và lắng nghe chính mình là để dùng "cái ấy" (id), "cái tôi" (ego)để tạo ra "Cái siêu tôi" (superego) tốt hơn.
Vậy Vô thức là gì?.
Cuối thế kỷ 19, Sigmund Freud (1856-1939), đã đưa ra một phạm trù tư tưởng, một hệ thống phương pháp luận mới về vô thức. Tiền đề vô thức của ông đã thay đổi nhận thức của con người trên chiều hướng tự biết về chính mình. Ông là nhà khoa học mà tên tuổi của ông được đặt bên cạnh những tên tuổi vĩ đại khác như Acsimet, Galile, Isaac Niuton, Anbe Anhstanh. Công lao to lớn của ông là sáng tạo ra học thuyết Phân tâm (Psychoanalysis). Đây là khám phá ra vô thức(unconscious) như một tầng tư duy nền tảng, định hình, định hướng cho mọi hành vi của con người.
Học thuyết Freud có tác động và ảnh hưởng sâu rộng đến rất nhiều lĩnh vực khoa học khác nhau của thế giới ngày nay như tâm lý học, y học, triết học, xã hội học, tội phạm học, văn học nghệ thuật, tôn giáo, giáo dục...Khám phá của Freud được coi là một cuộc cách mạng trong nhận thức về bản chất hành vi con người, khi mà trước đó, người ta vẫn đề cao ý thức và coi ý thức như phần tư duy chủ yếu của con người. Khám phá này đã đem ánh sáng ý thức khai thông những khái niệm của ý chí và động cơ, để điều chỉnh và giải thích những hiện tượng tâm thần tiêu cực cho con người Tây phương. Nói như vậy là vì ở phương Đông, từ rất lâu rồi, Phật giáo cũng đã có một hệ thống phân tâm học đồ sộ với một nền tảng bản thể luận và siêu hình học. Đối với Tây phương thì huyền thoại vô thức đã cống hiến một tri thức luận mới. Thay vì ý thức quyết định sự hữu của con người với công thức của Descartes, thì đối với Freud, vô thức là nền tảng cho ý thức và cái tôi của cá nhân. Trong khi, trước đó, tri thức được Descartes coi là thể thống nhất. Theo Freud, tri thức là một căn nhà bị chia hai: tầng trên của ý thức và tầng dưới vẫn còn đang nằm trong bóng tối. Ý thức chỉ là một tảng băng nổi trên mặt biển - và vô thức là phần ở dưới nước không thấy được. Phần chìm này rất lớn và quyết định tất cả những sinh hoạt và nội dung ý thức. Nó chứa những năng lực với khả năng kiểm soát, với tên gọi là năng lực tính dục, có đặc trưng là muốn thoả mãn bằng mọi phương diện và mọi giá. Với tiền đề vô thức và động cơ tính dục, Freud giải thích được tất cả hiện tượng ý chí, suy tưởng, tâm lý, ham muốn và ý chí hành động - kể cả việc giải thích các giấc mơ.
Những luận thuyết cơ bản của phân tâm học gồm:
1. Hành vi, kinh nghiệm và nhận thức của con người phần lớn được định hình bởi các xung năng bẩm sinh.
2. Những xung năng này mang bản chất vô thức.
3. Qúa trình cố đưa những xung năng này "trồi" lên bề mặt ý thức sẽ gây ra những kháng cự tâm lý, được biểu hiện qua các cơ chế phòng vệ.
4. Bên cạnh những cấu trúc tâm thần mang tính bẩm sinh đó, sự phát triển của một cá nhân còn được định hình bởi những sự kiện thuở ấu thời.
5. Những xung đột giữa ý thức về thực tại với phần vô thức của hệ tâm thần (tạo nên sự dồn nén) có thể là nguồn gốc của những chứng rối nhiễu tâm trí như chứng nhiễu tâm, lo âu, trầm uất, v.v...
6. Phương thức để giải trừ những ảnh hưởng này từ bằng vô thức là đưa các nội dung đó lên bình diện ý thức.
Freud chia bộ máy tư duy của con người theo ba lát cắt khác nhau: Vô thức (unconscius), tiền ý thức (preconscius) và ý thức (conscius). Ý thức là phần tinh thần liên hệ trực tiếp với thế giới bên ngoài. Tiền ý thức là phần tinh thần đi ra từ vô thức nhưng chưa đến được ý thức và do đó chưa trở thành ý thức. Vô thức tách rời hẳn ý thức, nằm sâu trong kết cấu tâm lý con người. Vô thức là nơi tàng trữ các bản năng với bản năng dục vọng là cốt lõi. Những bản năng này chất chứa những năng lượng tâm lý hết sức mãnh liệt, phục tùng nguyên tắc khoái lạc, luôn hướng ra ngoài để tìm cách thể hiện, muốn tiến vào ý thức để được thoả mãn. Có thể coi bộ máy tư duy của con người như một tảng băng trôi, phần nổi nhìn thấy được trên mặt nước là ý thức, chỉ chiếm một phần rất nhỏ của tảng băng; phần chìm dưới nước không nhìn thấy được chiếm phần vô cùng lớn của tảng băng là vô thức ; phần rất nhỏ nằm giáp ranh giữa vô thức và ý thức và vẫn chìm dưới nước là tiền ý thức. Sơ đồ lát cắt của Freud đã xác định rõ vị trí và vai trò của vô thức, tiền ý thức, ý thức trong bộ máy tư duy con người. Học trò của ông - Anthony A.Walsh- đã đưa ra sơ đồ mô hình cấu trúc của thể hiện các phạm trù mà Freud đã nêu ra trong học thuyết của mình gồm 3 thành phần quan trọng là: cái ấy (id), cái tôi (ego), cái siêu tôi(superego).
- Cái ấy (id): Nằm hoàn toàn trong vô thức, nó là phần dưới nước của tảng băng trôi. Cái ấy là thành phần sinh học (biological component) của tư duy. Nó là bản năng tính dục, có ngay từ lúc mới sinh, là năng lượng nguyên thủy của sự sống, Các hành động của nó đều dựa trên nguyên tắc khoái lạc (pleasure principle). Cái ấy tượng trưng cho phần vô thức và thể hiện sự chống đối xã hội của cá nhân. Theo Freud, phạm vi của cái ấy trong vô thức là phần nhân cách tối tăm, không thể đi đến được, nó rất mù quáng và độc ác. Mục đích độc nhất của nó là thỏa mãn các ham muốn bản năng và các khoái cảm trong con người mà không cần biết đến các hậu quả. Nói theo Thomas Mann thì “Nó không biết gì đến giá trị, thiện hay ác và cả đạo đức nữa”.
- Cái tôi (Ego): Nằm ở trên cái ấy, bao hàm cả ý thức, tiền ý thức và một phần vô thức, nó nằm ở phần nổi và một phần chìm của tảng băng trôi, cái tôi là thành phần tâm lý (psychological component) của bộ máy tư duy. Cái tôi, thể hiện cá tính tâm lý của mỗi con người. Cái tôi còn thể hiện trong hoạt động ý thức như tri giác, ngôn ngữ và những hoạt động trí tuệ cho phép kiểm soát kiềm chế hành vi cá nhân trong quan hệ với ngoại cảnh. Cái tôi có thể kìm nén xung đột của cái ấy và kiềm chế khoái lạc. Cái tôi nhận biết được thế giới xung quanh và nhận ra rằng phải kìm hãm những khuynh hướng sai lệch của cái tôi, để ngăn ngừa mọi xung đột với luật lệ xã hội. Như vậy, cái tôi vượt khỏi sự thống nhất sinh vật của thân xác để đạt tới một sự thống nhất cao hơn là sự tự chủ. Cái tôi tượng trưng cho phần ý thức và ý chí của cá nhân.
- Cái siêu tôi (superego): Nằm trong cả ba lát cắt vô thức, tiền ý thức và ý thức, nó nằm cả trong phần chìm và phần nổi của tảng băng trôi. Cái siêu tôi là thành phần xã hội (social component) của bộ máy tư duy. Cái siêu tôi được xem là sự học hỏi của cá nhân về các giá trị và quy tắc xã hội. Nó được coi là mặt lương tâm, đạo đức của cá nhân và cái tôi lý tưởng (ego-ideal). Cái siêu tôi đấu tranh để cho các hành vi được hoàn thiện bằng cách xác định giá trị hành vi hoặc tỏ thái độ đối với hành vi là đúng hay sai. Cái siêu tôi chứa tất cả các tiêu chuẩn đạo đức tiếp nhận được từ cha mẹ và xã hội. Các siêu tôi buộc cái tôi phù hợp không chỉ về thực tế mà còn về lý tưởng của mình về đạo đức. Do đó, cái siêu tôi khiến người ta cảm thấy tội lỗi khi họ đi ngược lại quy tắc của xã hội.
Từ các phạm trù vô thức, tiền ý thức, ý thức, cái ấy, cái tôi, cái siêu tôi, eros và thanatos trong mô hình lát cắt bộ máy tư duy con người của Freud, chúng ta có thể lý giải được rất nhiều nguồn gốc, bản chất sâu xa và động cơ dẫn đến hành vi của con người.
Tác dụng của việc vào được vô thức
Phân tâm học cổ điển của Freud là một phương pháp trị liệu đặc thù, mà người được phân tích (bệnh nhân) sẽ nói ra những ý nghĩ của mình, qua những liên tưởng tự do, những huyễn tưởng và các giấc mơ, từ đó nhà phân tâm sẽ rút ra kết luận về những xung đột vô thức là nguồn gốc đang gây ra các triệu chứng và biểu hiện đặc trưng ở những bệnh nhân, rồi diễn giải chúng cho họ bừng hiểu để từ đó có giải pháp cho những vấn đề của mình. Điểm đặc trưng của liệu pháp phân tâm là phân tách rõ các cơ chế phòng vệ, những ước muốn và cảm giác tội lỗi mang tính bệnh lý của bệnh nhân.
Theo GS.TSKH Đoàn Xuân Mượu, nguyên viện trưởng Viện Văcxin, tác giả cuốn sách "khoa học và vấn đề tâm linh" thì, để gặp lại người thân đã chết, cách duy nhất người sống có thể làm là tìm ra con đường tiếp cận với cõi vô thức của mình.
Bằng cách tập luyện trong vô thức kết hợp với lắng nghe chính mình, Ta sẽ phát hiện được những nhược điểm của mình và biết mình phải làm gì để tu tâm dưỡng tính, trở thành con người hoàn thiện. Nói ngắn gọn là tập luyện trong vô thức và lắng nghe chính mình là để dùng "cái ấy" (id), "cái tôi" (ego)để tạo ra "Cái siêu tôi" (superego) tốt hơn.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét