KHAI MỞ TÂM LINH
Những bài học ban đầu về khai mở tâm linh
Translate
Thứ Tư, 29 tháng 6, 2016
Thứ Tư, 6 tháng 4, 2016
Đây là một bài thơ mà tôi tình cờ đọc được.
Xin hãy là người đến sau
Để cảm nhận nỗi đau của người đến trước
Còn hơn đã là người đến trước
Nhưng phải nhường bước cho người đến sau
Để cảm nhận nỗi đau của người đến trước
Còn hơn đã là người đến trước
Nhưng phải nhường bước cho người đến sau
Thứ Năm, 6 tháng 11, 2014
Bàn thêm về Vô thức
Khi luyện tập về rung động vô thức trị liệu, các
cảm nhận về năng lượng trong cơ thể tuần tự xuất hiện như: nặng nề, nhẹ nhàng,
nóng, lạnh, đau nhức lâm râm, kiến bò, cảm giác mất trọng lực hay cảm tưởng như
bị té ngả, sóng rung động không theo ý muốn trong lúc cơ thể chúng ta chuyển động
vô thức. Ta không để mất ý thức khi vào vô thức để rung động thư giãn và có thể
lắng nghe chính mình. Khi rung động mạnh dần lên, khi ta để nó luân chuyển theo
sự kích thích của rung động thì ta có thể thấy con người thật của chính mình.
Vậy Vô thức là gì?.
Cuối thế kỷ 19, Sigmund Freud (1856-1939), đã đưa ra một phạm trù tư tưởng, một hệ thống phương pháp luận mới về vô thức. Tiền đề vô thức của ông đã thay đổi nhận thức của con người trên chiều hướng tự biết về chính mình. Ông là nhà khoa học mà tên tuổi của ông được đặt bên cạnh những tên tuổi vĩ đại khác như Acsimet, Galile, Isaac Niuton, Anbe Anhstanh. Công lao to lớn của ông là sáng tạo ra học thuyết Phân tâm (Psychoanalysis). Đây là khám phá ra vô thức(unconscious) như một tầng tư duy nền tảng, định hình, định hướng cho mọi hành vi của con người.
Học thuyết Freud có tác động và ảnh hưởng sâu rộng đến rất nhiều lĩnh vực khoa học khác nhau của thế giới ngày nay như tâm lý học, y học, triết học, xã hội học, tội phạm học, văn học nghệ thuật, tôn giáo, giáo dục...Khám phá của Freud được coi là một cuộc cách mạng trong nhận thức về bản chất hành vi con người, khi mà trước đó, người ta vẫn đề cao ý thức và coi ý thức như phần tư duy chủ yếu của con người. Khám phá này đã đem ánh sáng ý thức khai thông những khái niệm của ý chí và động cơ, để điều chỉnh và giải thích những hiện tượng tâm thần tiêu cực cho con người Tây phương. Nói như vậy là vì ở phương Đông, từ rất lâu rồi, Phật giáo cũng đã có một hệ thống phân tâm học đồ sộ với một nền tảng bản thể luận và siêu hình học. Đối với Tây phương thì huyền thoại vô thức đã cống hiến một tri thức luận mới. Thay vì ý thức quyết định sự hữu của con người với công thức của Descartes, thì đối với Freud, vô thức là nền tảng cho ý thức và cái tôi của cá nhân. Trong khi, trước đó, tri thức được Descartes coi là thể thống nhất. Theo Freud, tri thức là một căn nhà bị chia hai: tầng trên của ý thức và tầng dưới vẫn còn đang nằm trong bóng tối. Ý thức chỉ là một tảng băng nổi trên mặt biển - và vô thức là phần ở dưới nước không thấy được. Phần chìm này rất lớn và quyết định tất cả những sinh hoạt và nội dung ý thức. Nó chứa những năng lực với khả năng kiểm soát, với tên gọi là năng lực tính dục, có đặc trưng là muốn thoả mãn bằng mọi phương diện và mọi giá. Với tiền đề vô thức và động cơ tính dục, Freud giải thích được tất cả hiện tượng ý chí, suy tưởng, tâm lý, ham muốn và ý chí hành động - kể cả việc giải thích các giấc mơ.
Những luận thuyết cơ bản của phân tâm học gồm:
1. Hành vi, kinh nghiệm và nhận thức của con người phần lớn được định hình bởi các xung năng bẩm sinh.
2. Những xung năng này mang bản chất vô thức.
3. Qúa trình cố đưa những xung năng này "trồi" lên bề mặt ý thức sẽ gây ra những kháng cự tâm lý, được biểu hiện qua các cơ chế phòng vệ.
4. Bên cạnh những cấu trúc tâm thần mang tính bẩm sinh đó, sự phát triển của một cá nhân còn được định hình bởi những sự kiện thuở ấu thời.
5. Những xung đột giữa ý thức về thực tại với phần vô thức của hệ tâm thần (tạo nên sự dồn nén) có thể là nguồn gốc của những chứng rối nhiễu tâm trí như chứng nhiễu tâm, lo âu, trầm uất, v.v...
6. Phương thức để giải trừ những ảnh hưởng này từ bằng vô thức là đưa các nội dung đó lên bình diện ý thức.
Freud chia bộ máy tư duy của con người theo ba lát cắt khác nhau: Vô thức (unconscius), tiền ý thức (preconscius) và ý thức (conscius). Ý thức là phần tinh thần liên hệ trực tiếp với thế giới bên ngoài. Tiền ý thức là phần tinh thần đi ra từ vô thức nhưng chưa đến được ý thức và do đó chưa trở thành ý thức. Vô thức tách rời hẳn ý thức, nằm sâu trong kết cấu tâm lý con người. Vô thức là nơi tàng trữ các bản năng với bản năng dục vọng là cốt lõi. Những bản năng này chất chứa những năng lượng tâm lý hết sức mãnh liệt, phục tùng nguyên tắc khoái lạc, luôn hướng ra ngoài để tìm cách thể hiện, muốn tiến vào ý thức để được thoả mãn. Có thể coi bộ máy tư duy của con người như một tảng băng trôi, phần nổi nhìn thấy được trên mặt nước là ý thức, chỉ chiếm một phần rất nhỏ của tảng băng; phần chìm dưới nước không nhìn thấy được chiếm phần vô cùng lớn của tảng băng là vô thức ; phần rất nhỏ nằm giáp ranh giữa vô thức và ý thức và vẫn chìm dưới nước là tiền ý thức. Sơ đồ lát cắt của Freud đã xác định rõ vị trí và vai trò của vô thức, tiền ý thức, ý thức trong bộ máy tư duy con người. Học trò của ông - Anthony A.Walsh- đã đưa ra sơ đồ mô hình cấu trúc của thể hiện các phạm trù mà Freud đã nêu ra trong học thuyết của mình gồm 3 thành phần quan trọng là: cái ấy (id), cái tôi (ego), cái siêu tôi(superego).
- Cái ấy (id): Nằm hoàn toàn trong vô thức, nó là phần dưới nước của tảng băng trôi. Cái ấy là thành phần sinh học (biological component) của tư duy. Nó là bản năng tính dục, có ngay từ lúc mới sinh, là năng lượng nguyên thủy của sự sống, Các hành động của nó đều dựa trên nguyên tắc khoái lạc (pleasure principle). Cái ấy tượng trưng cho phần vô thức và thể hiện sự chống đối xã hội của cá nhân. Theo Freud, phạm vi của cái ấy trong vô thức là phần nhân cách tối tăm, không thể đi đến được, nó rất mù quáng và độc ác. Mục đích độc nhất của nó là thỏa mãn các ham muốn bản năng và các khoái cảm trong con người mà không cần biết đến các hậu quả. Nói theo Thomas Mann thì “Nó không biết gì đến giá trị, thiện hay ác và cả đạo đức nữa”.
- Cái tôi (Ego): Nằm ở trên cái ấy, bao hàm cả ý thức, tiền ý thức và một phần vô thức, nó nằm ở phần nổi và một phần chìm của tảng băng trôi, cái tôi là thành phần tâm lý (psychological component) của bộ máy tư duy. Cái tôi, thể hiện cá tính tâm lý của mỗi con người. Cái tôi còn thể hiện trong hoạt động ý thức như tri giác, ngôn ngữ và những hoạt động trí tuệ cho phép kiểm soát kiềm chế hành vi cá nhân trong quan hệ với ngoại cảnh. Cái tôi có thể kìm nén xung đột của cái ấy và kiềm chế khoái lạc. Cái tôi nhận biết được thế giới xung quanh và nhận ra rằng phải kìm hãm những khuynh hướng sai lệch của cái tôi, để ngăn ngừa mọi xung đột với luật lệ xã hội. Như vậy, cái tôi vượt khỏi sự thống nhất sinh vật của thân xác để đạt tới một sự thống nhất cao hơn là sự tự chủ. Cái tôi tượng trưng cho phần ý thức và ý chí của cá nhân.
- Cái siêu tôi (superego): Nằm trong cả ba lát cắt vô thức, tiền ý thức và ý thức, nó nằm cả trong phần chìm và phần nổi của tảng băng trôi. Cái siêu tôi là thành phần xã hội (social component) của bộ máy tư duy. Cái siêu tôi được xem là sự học hỏi của cá nhân về các giá trị và quy tắc xã hội. Nó được coi là mặt lương tâm, đạo đức của cá nhân và cái tôi lý tưởng (ego-ideal). Cái siêu tôi đấu tranh để cho các hành vi được hoàn thiện bằng cách xác định giá trị hành vi hoặc tỏ thái độ đối với hành vi là đúng hay sai. Cái siêu tôi chứa tất cả các tiêu chuẩn đạo đức tiếp nhận được từ cha mẹ và xã hội. Các siêu tôi buộc cái tôi phù hợp không chỉ về thực tế mà còn về lý tưởng của mình về đạo đức. Do đó, cái siêu tôi khiến người ta cảm thấy tội lỗi khi họ đi ngược lại quy tắc của xã hội.
Từ các phạm trù vô thức, tiền ý thức, ý thức, cái ấy, cái tôi, cái siêu tôi, eros và thanatos trong mô hình lát cắt bộ máy tư duy con người của Freud, chúng ta có thể lý giải được rất nhiều nguồn gốc, bản chất sâu xa và động cơ dẫn đến hành vi của con người.
Tác dụng của việc vào được vô thức
Phân tâm học cổ điển của Freud là một phương pháp trị liệu đặc thù, mà người được phân tích (bệnh nhân) sẽ nói ra những ý nghĩ của mình, qua những liên tưởng tự do, những huyễn tưởng và các giấc mơ, từ đó nhà phân tâm sẽ rút ra kết luận về những xung đột vô thức là nguồn gốc đang gây ra các triệu chứng và biểu hiện đặc trưng ở những bệnh nhân, rồi diễn giải chúng cho họ bừng hiểu để từ đó có giải pháp cho những vấn đề của mình. Điểm đặc trưng của liệu pháp phân tâm là phân tách rõ các cơ chế phòng vệ, những ước muốn và cảm giác tội lỗi mang tính bệnh lý của bệnh nhân.
Theo GS.TSKH Đoàn Xuân Mượu, nguyên viện trưởng Viện Văcxin, tác giả cuốn sách "khoa học và vấn đề tâm linh" thì, để gặp lại người thân đã chết, cách duy nhất người sống có thể làm là tìm ra con đường tiếp cận với cõi vô thức của mình.
Bằng cách tập luyện trong vô thức kết hợp với lắng nghe chính mình, Ta sẽ phát hiện được những nhược điểm của mình và biết mình phải làm gì để tu tâm dưỡng tính, trở thành con người hoàn thiện. Nói ngắn gọn là tập luyện trong vô thức và lắng nghe chính mình là để dùng "cái ấy" (id), "cái tôi" (ego)để tạo ra "Cái siêu tôi" (superego) tốt hơn.
Vậy Vô thức là gì?.
Cuối thế kỷ 19, Sigmund Freud (1856-1939), đã đưa ra một phạm trù tư tưởng, một hệ thống phương pháp luận mới về vô thức. Tiền đề vô thức của ông đã thay đổi nhận thức của con người trên chiều hướng tự biết về chính mình. Ông là nhà khoa học mà tên tuổi của ông được đặt bên cạnh những tên tuổi vĩ đại khác như Acsimet, Galile, Isaac Niuton, Anbe Anhstanh. Công lao to lớn của ông là sáng tạo ra học thuyết Phân tâm (Psychoanalysis). Đây là khám phá ra vô thức(unconscious) như một tầng tư duy nền tảng, định hình, định hướng cho mọi hành vi của con người.
Học thuyết Freud có tác động và ảnh hưởng sâu rộng đến rất nhiều lĩnh vực khoa học khác nhau của thế giới ngày nay như tâm lý học, y học, triết học, xã hội học, tội phạm học, văn học nghệ thuật, tôn giáo, giáo dục...Khám phá của Freud được coi là một cuộc cách mạng trong nhận thức về bản chất hành vi con người, khi mà trước đó, người ta vẫn đề cao ý thức và coi ý thức như phần tư duy chủ yếu của con người. Khám phá này đã đem ánh sáng ý thức khai thông những khái niệm của ý chí và động cơ, để điều chỉnh và giải thích những hiện tượng tâm thần tiêu cực cho con người Tây phương. Nói như vậy là vì ở phương Đông, từ rất lâu rồi, Phật giáo cũng đã có một hệ thống phân tâm học đồ sộ với một nền tảng bản thể luận và siêu hình học. Đối với Tây phương thì huyền thoại vô thức đã cống hiến một tri thức luận mới. Thay vì ý thức quyết định sự hữu của con người với công thức của Descartes, thì đối với Freud, vô thức là nền tảng cho ý thức và cái tôi của cá nhân. Trong khi, trước đó, tri thức được Descartes coi là thể thống nhất. Theo Freud, tri thức là một căn nhà bị chia hai: tầng trên của ý thức và tầng dưới vẫn còn đang nằm trong bóng tối. Ý thức chỉ là một tảng băng nổi trên mặt biển - và vô thức là phần ở dưới nước không thấy được. Phần chìm này rất lớn và quyết định tất cả những sinh hoạt và nội dung ý thức. Nó chứa những năng lực với khả năng kiểm soát, với tên gọi là năng lực tính dục, có đặc trưng là muốn thoả mãn bằng mọi phương diện và mọi giá. Với tiền đề vô thức và động cơ tính dục, Freud giải thích được tất cả hiện tượng ý chí, suy tưởng, tâm lý, ham muốn và ý chí hành động - kể cả việc giải thích các giấc mơ.
Những luận thuyết cơ bản của phân tâm học gồm:
1. Hành vi, kinh nghiệm và nhận thức của con người phần lớn được định hình bởi các xung năng bẩm sinh.
2. Những xung năng này mang bản chất vô thức.
3. Qúa trình cố đưa những xung năng này "trồi" lên bề mặt ý thức sẽ gây ra những kháng cự tâm lý, được biểu hiện qua các cơ chế phòng vệ.
4. Bên cạnh những cấu trúc tâm thần mang tính bẩm sinh đó, sự phát triển của một cá nhân còn được định hình bởi những sự kiện thuở ấu thời.
5. Những xung đột giữa ý thức về thực tại với phần vô thức của hệ tâm thần (tạo nên sự dồn nén) có thể là nguồn gốc của những chứng rối nhiễu tâm trí như chứng nhiễu tâm, lo âu, trầm uất, v.v...
6. Phương thức để giải trừ những ảnh hưởng này từ bằng vô thức là đưa các nội dung đó lên bình diện ý thức.
Freud chia bộ máy tư duy của con người theo ba lát cắt khác nhau: Vô thức (unconscius), tiền ý thức (preconscius) và ý thức (conscius). Ý thức là phần tinh thần liên hệ trực tiếp với thế giới bên ngoài. Tiền ý thức là phần tinh thần đi ra từ vô thức nhưng chưa đến được ý thức và do đó chưa trở thành ý thức. Vô thức tách rời hẳn ý thức, nằm sâu trong kết cấu tâm lý con người. Vô thức là nơi tàng trữ các bản năng với bản năng dục vọng là cốt lõi. Những bản năng này chất chứa những năng lượng tâm lý hết sức mãnh liệt, phục tùng nguyên tắc khoái lạc, luôn hướng ra ngoài để tìm cách thể hiện, muốn tiến vào ý thức để được thoả mãn. Có thể coi bộ máy tư duy của con người như một tảng băng trôi, phần nổi nhìn thấy được trên mặt nước là ý thức, chỉ chiếm một phần rất nhỏ của tảng băng; phần chìm dưới nước không nhìn thấy được chiếm phần vô cùng lớn của tảng băng là vô thức ; phần rất nhỏ nằm giáp ranh giữa vô thức và ý thức và vẫn chìm dưới nước là tiền ý thức. Sơ đồ lát cắt của Freud đã xác định rõ vị trí và vai trò của vô thức, tiền ý thức, ý thức trong bộ máy tư duy con người. Học trò của ông - Anthony A.Walsh- đã đưa ra sơ đồ mô hình cấu trúc của thể hiện các phạm trù mà Freud đã nêu ra trong học thuyết của mình gồm 3 thành phần quan trọng là: cái ấy (id), cái tôi (ego), cái siêu tôi(superego).
- Cái ấy (id): Nằm hoàn toàn trong vô thức, nó là phần dưới nước của tảng băng trôi. Cái ấy là thành phần sinh học (biological component) của tư duy. Nó là bản năng tính dục, có ngay từ lúc mới sinh, là năng lượng nguyên thủy của sự sống, Các hành động của nó đều dựa trên nguyên tắc khoái lạc (pleasure principle). Cái ấy tượng trưng cho phần vô thức và thể hiện sự chống đối xã hội của cá nhân. Theo Freud, phạm vi của cái ấy trong vô thức là phần nhân cách tối tăm, không thể đi đến được, nó rất mù quáng và độc ác. Mục đích độc nhất của nó là thỏa mãn các ham muốn bản năng và các khoái cảm trong con người mà không cần biết đến các hậu quả. Nói theo Thomas Mann thì “Nó không biết gì đến giá trị, thiện hay ác và cả đạo đức nữa”.
- Cái tôi (Ego): Nằm ở trên cái ấy, bao hàm cả ý thức, tiền ý thức và một phần vô thức, nó nằm ở phần nổi và một phần chìm của tảng băng trôi, cái tôi là thành phần tâm lý (psychological component) của bộ máy tư duy. Cái tôi, thể hiện cá tính tâm lý của mỗi con người. Cái tôi còn thể hiện trong hoạt động ý thức như tri giác, ngôn ngữ và những hoạt động trí tuệ cho phép kiểm soát kiềm chế hành vi cá nhân trong quan hệ với ngoại cảnh. Cái tôi có thể kìm nén xung đột của cái ấy và kiềm chế khoái lạc. Cái tôi nhận biết được thế giới xung quanh và nhận ra rằng phải kìm hãm những khuynh hướng sai lệch của cái tôi, để ngăn ngừa mọi xung đột với luật lệ xã hội. Như vậy, cái tôi vượt khỏi sự thống nhất sinh vật của thân xác để đạt tới một sự thống nhất cao hơn là sự tự chủ. Cái tôi tượng trưng cho phần ý thức và ý chí của cá nhân.
- Cái siêu tôi (superego): Nằm trong cả ba lát cắt vô thức, tiền ý thức và ý thức, nó nằm cả trong phần chìm và phần nổi của tảng băng trôi. Cái siêu tôi là thành phần xã hội (social component) của bộ máy tư duy. Cái siêu tôi được xem là sự học hỏi của cá nhân về các giá trị và quy tắc xã hội. Nó được coi là mặt lương tâm, đạo đức của cá nhân và cái tôi lý tưởng (ego-ideal). Cái siêu tôi đấu tranh để cho các hành vi được hoàn thiện bằng cách xác định giá trị hành vi hoặc tỏ thái độ đối với hành vi là đúng hay sai. Cái siêu tôi chứa tất cả các tiêu chuẩn đạo đức tiếp nhận được từ cha mẹ và xã hội. Các siêu tôi buộc cái tôi phù hợp không chỉ về thực tế mà còn về lý tưởng của mình về đạo đức. Do đó, cái siêu tôi khiến người ta cảm thấy tội lỗi khi họ đi ngược lại quy tắc của xã hội.
Từ các phạm trù vô thức, tiền ý thức, ý thức, cái ấy, cái tôi, cái siêu tôi, eros và thanatos trong mô hình lát cắt bộ máy tư duy con người của Freud, chúng ta có thể lý giải được rất nhiều nguồn gốc, bản chất sâu xa và động cơ dẫn đến hành vi của con người.
Tác dụng của việc vào được vô thức
Phân tâm học cổ điển của Freud là một phương pháp trị liệu đặc thù, mà người được phân tích (bệnh nhân) sẽ nói ra những ý nghĩ của mình, qua những liên tưởng tự do, những huyễn tưởng và các giấc mơ, từ đó nhà phân tâm sẽ rút ra kết luận về những xung đột vô thức là nguồn gốc đang gây ra các triệu chứng và biểu hiện đặc trưng ở những bệnh nhân, rồi diễn giải chúng cho họ bừng hiểu để từ đó có giải pháp cho những vấn đề của mình. Điểm đặc trưng của liệu pháp phân tâm là phân tách rõ các cơ chế phòng vệ, những ước muốn và cảm giác tội lỗi mang tính bệnh lý của bệnh nhân.
Theo GS.TSKH Đoàn Xuân Mượu, nguyên viện trưởng Viện Văcxin, tác giả cuốn sách "khoa học và vấn đề tâm linh" thì, để gặp lại người thân đã chết, cách duy nhất người sống có thể làm là tìm ra con đường tiếp cận với cõi vô thức của mình.
Bằng cách tập luyện trong vô thức kết hợp với lắng nghe chính mình, Ta sẽ phát hiện được những nhược điểm của mình và biết mình phải làm gì để tu tâm dưỡng tính, trở thành con người hoàn thiện. Nói ngắn gọn là tập luyện trong vô thức và lắng nghe chính mình là để dùng "cái ấy" (id), "cái tôi" (ego)để tạo ra "Cái siêu tôi" (superego) tốt hơn.
Thứ Tư, 24 tháng 9, 2014
Cuộc sống và những con người hoàn thiện
Con người hoàn thiện là những con người không có bệnh
tật gì. Là một con người mà ai ai cũng yêu mến và quí trọng. Con người hoàn thiện
là con người luôn luôn hướng thiện, hướng tới những điều tốt đẹp. Con người
hoàn thiện là con người biết sẻ chia và thương cảm cho nỗi khổ và niềm đau của
mọi người, sống biết SÁM HỐI khi mắc lỗi lầm. Tâm THIỆN, CHÍ cao hay THIỆN LÀNH
và CHÍ LÀNH là đặc trưng của CON NGƯỜI HOÀN THIỆN. Con người hoàn thiện thật sự
yêu thương bằng HÀNH ĐỘNG, NIỀM VUI và NỤ CƯỜI.
Sau đây là một ý kiến cảm nhận về cuộc sống và những
Con người hoàn thiện của tôi:
Trời
cho Tinh Khí Thần
Mẹ
cho Thân Khẩu Ý
Ta
sống trong chữ Mệnh
Bệnh
sinh bởi thói quen
Tiên
thiên bởi Mẹ cha
Hậu
thiên hàng ngày lấy
Ai
trong khắp quanh ta
Cũng
mong mình hoàn thiện
Ẩn
mình hay đối diện
Nhân
quả là thước đo
Những
gì còn hay mất
Do
Thiêng liêng lấy, cho.
Người
hiểu biết phải lo
Tương
lai nào đối diện
Lấy
chữ đức làm đầu
Chí
lành và chí thiện
Thứ Năm, 28 tháng 8, 2014
Thư yểm
Từ ngàn xưa, bùa chú đã
xuất hiện ngay cả trong những kinh sách của nhiều tôn giáo. Phần lớn các bùa
chú này nhằm mục đích để cầu an, giúp cho thân tâm, gia đình yên ổn. Ngoài ra
nhiều bùa chú còn giúp để trị bệnh, trừ tà, phá bùa yếm đối. Thư và yểm là nghi thức điều động quyền lực siêu
nhiên vào việc hãm hại người bằng bùa chú. Thư có tác dụng gây bệnh tật, hành
xác; nếu trầm trọng có thể đưa đến mất mạng. Trong khi đó, thì yểm có tác dụng
hủy hoại đường công danh, sự nghiệp của đối thủ, khiến cho làm ăn thua lỗ, gia
đình ly tán. Thư và yểm được thực hiện trên căn bản sử dụng quyền lực vô hình của
bùa và chú, chỉ khác nhau ở nghi thức. Một lá bùa yểm có ba bộ phận quan trọng là “ Phù
đầu” (tức đầu lá bùa), “Phù đảm” (tức gan lá bùa), “Phù khước” (tức chân lá
bùa), và phải phối hợp sử dụng với chú ngữ và chỉ pháp để sử dụng. Muốn thư người nào thì người thầy dùng đồ vật có
mang hơi hướng của người đó để làm phép, có thể là một mảnh áo quần hay một vật
dụng thường dùng nhưng tốt nhất là tóc hay móng tay của đối tượng. Thầy pháp sẽ
hàng ngày đọc thần chú, trù yểm vào những đồ vật trên khiến cho nạn nhân bị đau
đớn, khổ sở. Cũng có nơi dùng hình ảnh hoặc hình nộm có ghi tên tuổi của khổ chủ.
Sau khi têm phép và chú nguyện, người thầy có thể dùng vật nhọn đâm vào bức ảnh
hay hình nộm để hành xác người bị thư. Hễ đâm vào nơi nào thì nạn nhân sẽ bị
đau nơi đó cho dù ở cách xa vạn dặm. Khi thư, không cần phải gặp gỡ hay đến nơi
cư ngụ của đối tượng, trong khi đó thì yểm cần phải thực hiện một cách trực tiếp
hơn. Người thầy sau khi têm phép sẽ phải đến tận nơi mình muốn yểm để an vị lá bùa.
Bùa càng gần nạn nhân bao nhiêu thì càng tác động mạnh mẽ bấy nhiêu.
Nếu thư yểm phát xuất từ cõi linh thiêng thì nhất định phải có mục đích giúp đỡ, giáo dục từ cõi vô hình. Đó là điều mà chúng ta cần tìm hiểu để có được một cái nhìn chính xác, đúng ý nghĩa cho bộ môn đầy bí ẩn này. Thật ra, đây là một bộ môn siêu hình đã xuất hiện trong dân gian từ ngàn xưa, khắp nơi trên thế giới. Môn này cũng không xa lạ gì đối với những tông phái huyền bí mà giải trừ thư yểm được xem là một phương tiện làm đạo, giúp đỡ người mắc nạn. Nhìn nguồn gốc của thư yểm, chúng ta thấy môn này được truyền dạy trong những bộ lạc hay sắc tộc thiểu số, sống ở những nơi xa xôi hẻo lánh. Thư yểm là một công cụ của thần thánh nhằm bảo vệ những tầng lớp yếu kém trong xã hội. Uy lực bí ẩn của thư yểm được dùng để bù đắp cho những thua sút của họ so với đồng loạị . Cách hành xử của thần thánh đã cho thấy bộ môn thư yểm chẳng qua là một công cụ huyền bí giúp con người trả nghiệp cũng như tu sửa, là phương tiện khuyến tu, giáo dục của các đấng linh thiêng trong công cuộc cứu độ nhân loại.
Nếu thư yểm phát xuất từ cõi linh thiêng thì nhất định phải có mục đích giúp đỡ, giáo dục từ cõi vô hình. Đó là điều mà chúng ta cần tìm hiểu để có được một cái nhìn chính xác, đúng ý nghĩa cho bộ môn đầy bí ẩn này. Thật ra, đây là một bộ môn siêu hình đã xuất hiện trong dân gian từ ngàn xưa, khắp nơi trên thế giới. Môn này cũng không xa lạ gì đối với những tông phái huyền bí mà giải trừ thư yểm được xem là một phương tiện làm đạo, giúp đỡ người mắc nạn. Nhìn nguồn gốc của thư yểm, chúng ta thấy môn này được truyền dạy trong những bộ lạc hay sắc tộc thiểu số, sống ở những nơi xa xôi hẻo lánh. Thư yểm là một công cụ của thần thánh nhằm bảo vệ những tầng lớp yếu kém trong xã hội. Uy lực bí ẩn của thư yểm được dùng để bù đắp cho những thua sút của họ so với đồng loạị . Cách hành xử của thần thánh đã cho thấy bộ môn thư yểm chẳng qua là một công cụ huyền bí giúp con người trả nghiệp cũng như tu sửa, là phương tiện khuyến tu, giáo dục của các đấng linh thiêng trong công cuộc cứu độ nhân loại.
Thứ Ba, 26 tháng 8, 2014
Bùa Ngãi
Quê tôi có người kể về tác dụng
khác thường của cành cây do con chim quốc đậu trước khi chết. Khi con quốc bị mất
bạn tình sẽ đứng kêu đến chết trên một cành cây. Người tìm được cành cây này nếu
dùng nó đập vào người mà mình muốn lấy thì sẽ được như ý. Người ta nói rằng đây
là trường hợp yêu vì bị bỏ bùa ngải. Vậy bùa ngải là gì?
"Bùa" còn được gọi là lá phép, linh phù. Linh
phù phát xuất từ Ấn độ giáo, nó có tên được dịch từ chữ " Yantra" của
tiếng Phạn, có nghĩa là những phương tiện tập trung năng lượng siêu nhiên giúp
chuyển lời cầu xin đến các đấng Thần Linh. Lý Thiết Bút, tác giả cuốn “Linh phù
hiển linh quang” nổi tiếng Trung Quốc, cho rằng, động lực của vẽ bùa là ở hai
chữ “Thành” và “Tín”. Thành là thành tâm thực ý, chí thành thì linh, động đến
trời đất; tín là tin tưởng hết lòng, tự nhiên sáng suốt, pháp lực vô cùng. Tuỳ
theo công năng, mỗi linh phù có tên và nét vẽ khác nhau. Theo dân gian Việt Nam,
Bùa bao gồm những nét vẽ ngoằn ngoèo bằng mực đỏ, không ý nghĩa. Khi vẽ trên giấy
thì gọi là lá bùa, còn trên vải thì gọi là khăn bùa. Nếu không muốn để lại dấu
vết, pháp sư có thể dùng nhang hoặc dùng tay vẽ lên không trung, gọi là khoán
bùa.
Muốn đạt được linh ứng, bùa cần
có đủ các điều kiện như sau:
1- Phải được truyền thần lực bởi những thầy tu huyền bí đức độ, đã có ấn lịnh từ cõi vô hình để làm việc này.
2- Khi thỉnh phép phải theo đúng ngày và giờ ấn định.
3- Phải lập lại lời cầu xin của mình hàng ngày.
"Ngãi" có hai loại là ngãi khô và ngãi tươi. Khi luyện ngãi, pháp sư chỉ việc bỏ chậu ngãi tươi hoặc củ ngãi khô vào chậu đất, trịnh trọng bày lên bàn thờ cùng lễ vật, sau đó là nghi thức têm phép. Trong một số ngày nhất định thì củ ngãi sẽ nẩy mầm, thành cây và vậy ước nguyện sẽ linh ứng. Người ta cho rằng Ngãi có hiệu quả cao và nhanh chóng hơn so với bùa. Cách luyện ngãi cũng rất kỳ bí mà chỉ có một số ít pháp sư cao tay ấn mới biết. Mặc dầu bùa và ngãi lúc nào cũng được gắn liền với nhau nhưng trên thực tế chỉ có bùa mới có giá trị siêu hình. Trong khi đó, ngãi là sản phẩm của mê tín, được tạo dựng bằng huyền thoại với mục tiêu gạt gẫm để trục lợi. Có thể dễ dàng nhận thấy như vậy khi chúng ta tìm hiểu nguồn gốc của hai môn này trên quan điểm của một tông phái hay tôn giáo.
Chuyện dùng bùa ngãi vào mục đích xấu vẫn xảy ra khắp nơi và cõi vô hình dùng lối hành xử này để " lấy độc trị độc" đối với những kẻ xấu trên đời.
1- Phải được truyền thần lực bởi những thầy tu huyền bí đức độ, đã có ấn lịnh từ cõi vô hình để làm việc này.
2- Khi thỉnh phép phải theo đúng ngày và giờ ấn định.
3- Phải lập lại lời cầu xin của mình hàng ngày.
"Ngãi" có hai loại là ngãi khô và ngãi tươi. Khi luyện ngãi, pháp sư chỉ việc bỏ chậu ngãi tươi hoặc củ ngãi khô vào chậu đất, trịnh trọng bày lên bàn thờ cùng lễ vật, sau đó là nghi thức têm phép. Trong một số ngày nhất định thì củ ngãi sẽ nẩy mầm, thành cây và vậy ước nguyện sẽ linh ứng. Người ta cho rằng Ngãi có hiệu quả cao và nhanh chóng hơn so với bùa. Cách luyện ngãi cũng rất kỳ bí mà chỉ có một số ít pháp sư cao tay ấn mới biết. Mặc dầu bùa và ngãi lúc nào cũng được gắn liền với nhau nhưng trên thực tế chỉ có bùa mới có giá trị siêu hình. Trong khi đó, ngãi là sản phẩm của mê tín, được tạo dựng bằng huyền thoại với mục tiêu gạt gẫm để trục lợi. Có thể dễ dàng nhận thấy như vậy khi chúng ta tìm hiểu nguồn gốc của hai môn này trên quan điểm của một tông phái hay tôn giáo.
Chuyện dùng bùa ngãi vào mục đích xấu vẫn xảy ra khắp nơi và cõi vô hình dùng lối hành xử này để " lấy độc trị độc" đối với những kẻ xấu trên đời.
NHỮNG ẤN CHỨNG CỦA THẾ GIỚI VÔ HÌNH
Khi nghiên cứu ấn chứng của thế giới vô
hình, người ta thấy2 nguyên tắc. Thứ nhất là bí mật, thứ 2 là một chiều.
Theo nguyên tắc thứ nhất , các ấn chứng
của thế giới vô hình không bao giờ cho phép ta biết một cách chắc chắn.Với nguyên tắc thứ hai,
khi tacó duyên thì mới được chứng
nghiệm. Đấng thiêng liêng muốn chúng ta “học” tâm linh nên mới đưa “cơ duyên
nhận ấn chứng” cho chúng ta.
Cách thức cho ấn chứngcủa Vô hình là
quathân, khẩu, ý của người được chứng nghiệm. Biểu hiện qua thân là khi
xin sức khỏe, vô hình truyền thần lực cho ta.Qua ý là ta bỗng nhiên viết ra những
bài văn, câu chuyện gọi là sự “tá ý”.Qua khẩu là ta nói những lời hay viết ra
những đoạn văn, thơ gọi là “tá khẩu”. ...Có
rất nhiều cách chuyển thông điệp qua
“thân “ khác nhau. Mỗi chuyển động có một thông điệp kèm theo: Nhìn thấy “linh
ảnh” của đấng mình thờ phượng, thấy được người thân đã khuất của mình. Mỗi ấn
chứng đều có một thông điệp. Học thế giới vô hình là học qua các dấu hiệu, qua
các cảm xúc vô hình.
Hình thức cho ấn chứng của thế giới vô hình đến với thế giới hữu hình có thể dưới các dạng như : Linh tính, điềm báo, lời như thầy bói, giấc mơ,lời tiên tri.
Ma nhập cũng là một hình thức thế giới vô hình tác động vào thế giới hữu hình đã được thế giới công nhận. Vatican có bộ môn trừ tà, tòa thánh công nhận có tà nhập. Hồi giáo, Thiên chúa giáo, Phật giáo, dân gian cũng có trừ tà.Ngoài ra, ấn chứng của thế giới vô hình còn có ở các hình thức như: Thần quyền, nhân điện, thiền, khai mở luân xa, những khả năng chữa bệnh;Luyện phá luân, phương pháp thở: nằm thở, ngồi thở, thở bụng, soi hồn, xuất hồn; khai mở huyệt nhâm huyệt đốc; Đạo Cao Đài dùng cơ bút; dùng hình nhân để thư ếm; Xem chỉ tay, bói bài vvTa cần biết nguyên tắc tác động của các ấn chứng đối với người nhận được qua phân tích mục đích và đối tượng tác động. Mục đích tác động của ấn chứng lúc nào cũng giúp đỡ, giáo dục, khuyến tu, làm “thức tâm” thức tỉnh tâm linh của con người khi được chứng kiến.Đối tượng tác động của ấn chứng là những người hữu duyên và chỉ những người hữu duyên mà thôi.
Hình thức cho ấn chứng của thế giới vô hình đến với thế giới hữu hình có thể dưới các dạng như : Linh tính, điềm báo, lời như thầy bói, giấc mơ,lời tiên tri.
Ma nhập cũng là một hình thức thế giới vô hình tác động vào thế giới hữu hình đã được thế giới công nhận. Vatican có bộ môn trừ tà, tòa thánh công nhận có tà nhập. Hồi giáo, Thiên chúa giáo, Phật giáo, dân gian cũng có trừ tà.Ngoài ra, ấn chứng của thế giới vô hình còn có ở các hình thức như: Thần quyền, nhân điện, thiền, khai mở luân xa, những khả năng chữa bệnh;Luyện phá luân, phương pháp thở: nằm thở, ngồi thở, thở bụng, soi hồn, xuất hồn; khai mở huyệt nhâm huyệt đốc; Đạo Cao Đài dùng cơ bút; dùng hình nhân để thư ếm; Xem chỉ tay, bói bài vvTa cần biết nguyên tắc tác động của các ấn chứng đối với người nhận được qua phân tích mục đích và đối tượng tác động. Mục đích tác động của ấn chứng lúc nào cũng giúp đỡ, giáo dục, khuyến tu, làm “thức tâm” thức tỉnh tâm linh của con người khi được chứng kiến.Đối tượng tác động của ấn chứng là những người hữu duyên và chỉ những người hữu duyên mà thôi.
Nghi thức để có ấn chứng của vô hình: Hãy thành tâm là muốn được chứng nghiệm thế
giới siêu hình khi xin đấng linh thiêng mà ta thờ phụng, ban cho chúng ta một
bằng chứng. Chỉ những người hữu duyên mới có bằng chứng. Điều kiện làm lễ xin
ấn chứng rất đơn giản: Chắp tay cầu nguyện với đấng linh thiêng của mình xin
cho biết sự hiện diện của Ngài. Nếu có duyên, Ngài sẽ đến với mình bằng “thần
lực” của Ngài. Thần lực được ban cho người thọ nhận qua thân, khẩu, ý. (Đa số
là qua “thân”, sau khi tu tập nhiều sẽ có tá “ý” và tá “khẩu”).
Tác giả của bài này đã
nhận một vài ấn chứng qua cách “tác ý”. Xin được chia sẻ cùng mọi người:
Học thiền theo PhậtHọc thiền theo Phật ngóng Niết bàn
Say thiền say khí ngó phím loan
Chuyện viển vông đời tưng tửng khắp
Có không, không có ấy việc hoan
Tâm thiền chùng nhẹ bàn chân xuống
Thở cái lầm thân xác chìm loan
Suối lý trí trong thành hoa nở
Thiện mầm duyên ngộ lá hoa xanh
Học thiền theo Phật lấy chữ duyên
Tứ tượng là con của lưỡng nguyên
Tâm mà đã khởi nhiều duyên khởi
Vô lượng kiếp kia vô lượng thiền
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)