Translate

Thứ Ba, 26 tháng 8, 2014

Bản ngã giả tạo đánh mất Năng lượng bản thân

Bản ngã quyết định thói quen, thói quen quyết định tính cách, tính cách quyết định số phận con người.
Bản ngã giả tạo sẽ đánh mất năng lượng cảm xạ, đó là một chân lý mà tôi thấy hoàn toàn đúng. Tuy nhiên, việc thay đổi bản ngã là việc bắt buộc phải làm với tất cả mọi người. Sẽ có người khi trưởng thành mang bản ngã xấu  nhưng cũng có người mang bản ngã tốt. Vậy bản ngã con người được hình thành thế nào?. Bản ngã con người sau khi tu tập, học hành, rèn luyện hướng thiện có phải là bản ngã giả tạo hay không?. Để làm phong phú thêm nội dung này, Tôi xin trình bày một nội dung tương phản của nó, đó là : Bản ngã của con người do học tập, rèn luyện, tu tập, sẽ hình thành như thế nào?. 
Trong quá trình trưởng thành của 1 con người cụ thể, luôn có sự thay đổi và hoàn thiện bản ngã của con người. Đó là các thay đổi về tinh thần, xúc cảm và tâm hồn cũng như các điều kiện vật chất.  Đánh giá bản ngã của mỗi người cần thông qua việc tìm hiểu những thay đổi có ý nghĩa gì trong các bối cảnh mà người đó đã trải qua. 
Ta đều biết: Bản năng sinh tồn đòi hỏi con người phải thay đổi để phù hợp với môi trường sống, mọi thay đổi đều tương đương với một sự từ chối về như thói quen, công việc, lối sống, lòng tin hay một cơ sở vật chất cũ. Các quá trình đó có thể là học tập, sống và làm việc tại các môi trường và hoàn cảnh khác nhau. Theo từng bối cảnh, quá trình hình thành bản ngã con người sẽ trải qua các giai đoạn: Từ chối, giận dữ, mặc cả, suy sụp, chấp nhận, hồi sinh, sáng tạo bản ngã mới.  Các xã hội dân chủ đều chấp nhận bảo hộ cho các bản ngã riêng tư của con người nếu nó không gây nguy hiểm đến xã hội.
Trong quá trình trưởng thành, mối liên hệ giữa con người với tâm thức dần dần mờ nhạt và thay thế vào đó là sự bảo vệ của người thân. Con người được dạy bảo về cái thiện, cái ác, cái tốt, cái xấu, về cách phải quyết định, hành động và phản ứng như thế nào cho mỗi hoàn cảnh cụ thể. Tuy nhiên, sự dạy bảo trên là chưa đủ để xây dựng tâm thức vì ta buộc phải mang một bản ngã giả tạo để an toàn cho ta. Với bản ngã giả tạo, ta cố gắng dựng nên mối quan hệ với người khác, kèm theo nỗi sợ hãi và các tình cảm tiêu cực trong nội tâm của ta. Khi có bản ngã xấu, ta chẳng có trách nhiệm gì để bảo vệ người khác. Ta vứt bỏ trách nhiệm về mọi cử chỉ, ý nghĩ và hành động tiêu cực đối với người khác. Bản ngã này che dấu nỗi đau và giận dữ, bởi vì nó phủ nhận sự tồn tại nội tâm của ta trong nhân cách của ta. Nó là sự cố gắng để diễn tả rằng “ta là như thế”. Nó là cái để ta làm vừa lòng thiên hạ, để họ chấp nhận và đem lại an toàn cho ta. Đối với bản ngã giả tạo, khổ đau và giận dữ không phải là thành phần của chân ngã. Ta coi mọi nhân tố tiêu cực là lỗi của người khác, ta chê trách họ đồng thời trút lên họ sự giận dữ và nỗi đau. Năng lượng để giữ cái bản ngã giả tạo bị biến dạng do phải dùng vào việc tạo ra sự an toàn cho ta bằng bất kì giá nào và bằng cách chứng minh ta là người tốt. Nó là lối thoát của ta nhằm tạo cho ta cảm giác nhẹ nhõm, một sự an ủi, có một cái gì đó làm ta thích thú khi ta trút cái tiêu cực sang người khác. Người ta gọi đó là “sự thích thú tiêu cực” được sinh ra từ “cái bản ngã thấp hèn”.

Quá trình học tập, tu tập, rèn luyện để có bản ngã tốt lại có quá trình và kết quả khác. Quá trình này gồm các bước:
1.    THÁCH THỨC
Khi ta muốn loại bỏ các trải nghiệm nặng nề của cuộc sống như học tập, vì sợ không thể hoặc không muốn đương đầu với chúng, phản ứng đầu tiên là sự từ chối và thách thức xuất hiện. Đó là một sự tự vệ nhất thời, bước đầu trên con đường chấp nhận.  Cái sợ làm cơ sở cho sự từ chối, sợ những gì phải đương đầu và vượt qua nguyên nhân của sự bất lợi cho ta. Những nỗi sợ của chúng ta đôi khi không hợp lý lẽ, nhưng chúng lại có thực và mạnh mẽ. 
2.    GIẬN DỮ
Thời kỳ từ chối không kéo dài vĩnh viễn, sẽ đến lúc Ta cảm nhận thấy giận dữ, điên cuồng, ghen ghét và thù hận. Phản ứng đầu tiên bắt đầu từ gia đình, nỗi buồn, rồi nước mắt, cảm giác tội lỗi và xa lánh. Theo thời gian, sự giận dữ của Ta càng mạnh lên và càng nặng nề.
3.     MẶC CẢ
Khi sự giận dữ đã không đem lại cho Ta điều gì, Ta sẽ thử làm một cuộc thương lượng. Người ta thường làm thỏa thuận này với Đấng tối cao. Việc tìm ra và nhổ tận rễ cái khó khăn gây ra sự giận dữ đó rất là quan trọng, nó tăng thêm sự mặc cả và dẫn ta đến sự suy sụp. Có người thương lượng tìm lối thoát bằng cách nhờ bất kỳ ai giúp đỡ mình. Có người chấp nhận với hy vọng vào tác động thần kỳ của bất kỳ một phương pháp nào đó. Có hàng nghìn lý do để ngăn cản và làm cho ta không tin tưởng ở ngay cả chính mình. Nên nhớ rằng ta càng mặc cả thì càng cảm thấy mình yếu đuối hơn.
4.     SUY SỤP
Sự suy sụp là những gì ta cảm nhận được khi năng lượng của chúng ta càng ngày càng yếu. Chúng ta thất vọng vì không đạt được điều chúng ta mong muốn. Đối với trường năng lượng của con người, sự suy sụp tương đương với sự giảm đi dòng năng lượng.  Sự suy sụp có 3 nguyên nhân: Nguyên nhân thứ nhất đến từ sự tước đoạt. Nguyên nhân thứ hai đến từ các tình cảm về sự mất mát. Nguyên nhân thứ ba gắn với hiệu ứng của các thay đổi quá mạnh khiến cho tất cả mọi thứ đều làm ta sợ. Ta bị bao vây bởi những tình cảm tiêu cực đó, Ta nghĩ tới những cuộc sống mà Ta đã trải qua và Ta cảm thấy bị trừng phạt vì sự thiếu sót của mình.
5.     CHẤP NHẬN
Khi Ta đã đạt tới thời kỳ chấp nhận, mọi thứ bớt chao đảo bởi vì bây giờ chỉ còn có vấn đề là thực hiện các nhu cầu của Ta theo con đường buộc phải đi. Nó sẽ giúp Ta kiểm soát tốt hơn cuộc đời của mình. Khi được biết về tương lai sau tu tập, học hành và rèn luyện, người ta có đủ lòng tin và sự vững vàng để thả mình theo hướng đó. Sự chấp nhận đến dần từng đợt từng đợt trước khi quyết định.  Một phần quan trọng của sự đầu hàng của Ta chính là chấp nhận sự phù hợp với các môi trường quanh Ta.
6.     TÁI SINH
Chấp nhận việc thay đổi bản ngã dẫn đến sự tái sinh, đến sự khám phá ra nhân cách mới của Ta. Việc tái sinh này sẽ giúp Ta tìm lại trong chính Ta với những yếu tố đã bị chôn vùi từ lâu, thậm chí Ta còn chưa biết đến. Thực sự đây là một cuộc tái sinh. Lúc đầu, Ta sẽ phải sống trong sự tái sinh đó với tinh thần khiêm nhường để có thể  mong muốn có sự giúp đỡ, hỗ trợ của những người xung quanh. Trong tình trạng mới của mình, Ta cảm thấy có nhu cầu lớn là phải thỏa mãn mình trước, rồi hẵng nghĩ đến việc giúp đỡ cho nhân loại và phải như vậy thì cá nhân mới hợp nhất một cách toàn đồ với cuộc sống xã hội. 
7.     SÁNG TẠO
Sự tìm được bản ngã mới sẽ ảnh hưởng đến mọi lĩnh vực đời sống của Ta. Các con đường mà Ta tưởng bị ngăn chặn đã được mở ra. Các sự thay đổi ở bên trong được hiển lộ ra bên ngoài, chúng đến từ sức mạnh sáng tạo, chúng tràn ngập cuộc sống của Ta. Ta lôi cuốn được những người bạn mới, Ta thay đổi nghề nghiệp hay thay đổi cách nhìn về nó. 
THAY LỜI KẾT: 
Sự nghiên cứu quá trình hình thành bản ngã con người qua bảy thời kỳ như trên cho chúng ta biết các giai đoạn căn bản mà một con người thay đổi bản ngã của mình. Quá trình này là một dịp để ta trở về nguồn cội của con người ở sâu bên trong ta. Ở mỗi thời kỳ, quá khứ không ngừng cám dỗ  bằng sự dễ dãi của nó với những nhận định cũ kỹ, và cái nhìn hạn hẹp. Thay đổi bản ngã do tu tập, học hành là bắt đầu bằng cách từ bỏ quá khứ và can đảm bước vào con đường mới. Ta cần phải chấp nhận các nhu cầu cá nhân và nhận thức được chúng, thỏa mãn chúng, một cách kiên nhẫn có sự chọn lọc. Muốn có bản ngã tốt khi tu tập, học tập, rèn luyện phải tìm lại các nhu cầu hướng thiện còn chưa được thỏa mãn và chấp nhận chúng. Dù những nhu cầu đó có nặng nề khó chịu đến đâu cũng cố gắng thỏa mãn chúng và luôn nhớ rằng mỗi lần làm việc thiện sẽ bị ngăn chặn và có thể phải vượt qua các di chứng của sự mất mát, đau đớn. 
Việc học tập, tu tập để trau dồi kiến thức của mỗi người sẽ gắn liền với thay đổi bản ngã của họ. Trong quá trình của sự thay đổi này,  sự tác động của tiềm thức sẽ vén lên bức màn bí ẩn của việc tạo ra bản ngã đích thực của con người.  Bản ngã quyết định thói quen, thói quen quyết định tính cách, tính cách quyết định số phận con người.

Thảm trạng nạo phá thai

Tại sao người ta lại đi phá thai:
1, Do lối sống buông thả nên không muốn để lại hậu quả.
2, Do kinh tế khó khăn, không muốn bị nghèo túng do có thêm con.
3, Do sức khỏa không đảm bảo cho việc sinh sản.
4, Do áp lực của công việc, xã hội và phong trào kế hoạch hóa gia đình.
5, Do việc có thai ngoài ý muốn của các trường hợp bị cưỡng hiếp.
Tôi đã hỏi những người phụ nữ: “Tại sao chị lại đi phá thai?” Chị thứ nhất trả lời: “Vì tôi đã có 2 con gái!” Chị thứ hai biện bạch: “Tôi còn tương lai” Còn chị thứ ba thì bảo: “Tôi thích sống tự do, không bị ràng buộc, quen rồi!”.
Chúng tôi đã từng nghe những lý luận kiểu như vậy. Kẻ thì cho rằng khó khăn về kinh tế; người thì vì danh dự của gia đình, không thể chống lại lời thị phi của chòm xóm láng giềng; kẻ khác thì lại bảo rằng không thể để tồn tại hai dòng con, phức tạp lắm!
 Áp lực kinh khủng từ phía xã hội và gia đình đã đẩy người phụ nữ vào thế bế tắc. Lại thêm những thứ quyền lợi hết sức ích kỷ của họ mà người ta đành quyết định giết đi một mạng người mà chính đứa con của mình. Hầu hết những bà mẹ đã hết sức đau khổ và bị dằn vặt khi họ rơi vào tình trạng buộc phải bỏ con.  Những lúc ấy, tôi vẫn tự hỏi: Sao nỗi đau này chỉ riêng người phụ nữ đau khổ phải hứng chịu?. Can đảm nhận trách nhiệm, can đảm cưu mang đứa bé bất hạnh, con người chúng ta sẽ lớn rất nhiều.
 Nên chăng, ta đừng cay nghiệt với người trót lầm lỗi, và cũng đừng ngại như thế là “xé rào”?
Tuy nhiên, cũng có khi phá thai lại là một lối thoát bởi vì:
1, Có thể rũ bỏ sự ràng buộc và trách nhiệm của người trong cuộc với "đối tác" không đáng tin tưởng.
2, Có thể giảm chi phí cho việc duy trì gia đình.
3, Có thời gian để làm những công việc mà cơ hội cho phép.
4, Tránh được áp lực xã hội khi sinh con nhiều hơn quy định.
5, Thỏa mãn được dục vọng.
Nhưng bất cứ ai cũng hiểu tác hại của việc nạo phá thai là rất nhiều vì:
1, Ảnh hưởng xấu tới sức khỏe của sản phụ.
2, Tác động mạnh đến tâm tư, tình cảm của người mẹ trong nhiều năm.
3, Ảnh hưởng đến âm đức của cả cha lẫn mẹ thai nhi.
4, Tạo ra một lớp các oan hồn không nơi nương tựa.
Ta nên nhìn nhận sự việc thế nào về việc nạo phá thai:
1, Đây là một thảm họa cho đời sống tâm linh. Mọi người cần tránh rơi vào thảm họa này.
2, Tìm cách tích cực nhất để siêu thoát cho các linh hồn các bé bất hạnh.
3, Giáo dục giới tính đúng tầm, đúng lúc, đúng chỗ để con em chúng ta không bị động.
4, Nên có sự tư vấn để mọi người có nhận thức đúng về vấn đề này.

Ý, Tình, Thân

Ý, Tình, Thân là một đề tài về tâm lý học nên không thể bao quát hết mọi vấn đề nhân sinh. Bàn luận về nó để nói lên sự tương quan của Ý, Tình, Thân và tiến trình phiền não để ta có một cái nhìn đúng đắn trong việc tu tập.
Trên đời này ai cũng đi tìm hạnh phúc. Cái bản năng đi tìm hạnh phúc này hình như đã có từ kiếp nào rồi. Trên đời này ai cũng đi tìm câu trả lời: Ta từ đâu đến ? Sinh ra đời để làm gì ? Chết đi về đâu ? Câu hỏi đầu và câu hỏi cuối đa số chúng ta không để ý và nhiều lúc không muốn nghĩ tới vì nó có vẻ siêu hình. Nhưng sinh ra đời để làm gì thì chắc bạn sẽ đồng ý với tôi là sinh ra đời để sống và trong lúc sống mọi người đều đi tìm hạnh phúc.
Ý: là ý thức hay tâm ý, tức khả năng nhận thức, hiểu biết, phân biệt, suy tư, nghĩ tưởng, v.v...Tình: là tất cả những tình cảm mà ta cảm nhận được như: vui, buồn, yêu, ghét, giận, hờn, đam mê, lo sợ, ghen tức, v.v... Thân: là những gì thuộc về thân thể như cử chỉ, nói năng, hành động và thái độ. Ba cái này luôn đi chung và liên quan rất mật thiết với nhau. Xưa nay vấn đề tình cảm không được đề cập tới vì người ta xem nó thuộc về tâm, nhưng  nó ra thành một phần riêng vì có một tác dụng đặc biệt và quan trọng trong đời sống con người. Tâm là một danh từ bao quát. Trong ngũ uẩn thì sắc uẩn thuộc về thân còn bốn uẩn kia: thọ, tưởng, hành, thức thuộc về tâm. Ý thức cũng thuộc về tâm. Đương nhiên ở đây Ý và Tình cũng thuộc về tâm, nhưng mỗi cái có công năng khác nhau.
Khi sự vật xảy ra theo Ý của tôi thì Tình của tôi vui mừng, hân hoan sung sướng, và Thân của tôi thoải mái, nhẹ nhàng, dễ chịu ...Nhưng khi sự vật xảy ra trái Ý tôi thì Tình của tôi buồn bực, giận hờn, lo âu và Thân của tôi sinh ra bệnh hoạn, hốc hác, mệt mỏi.
 Theo quan niệm bình dân, ý (lý trí) nằm ở trong đầu, còn tình cảm nằm ở trong tim hay trong lòng. Khi ý và tình đi đôi với nhau thì mọi sự an ổn. Khi ý và tình đi ngược thì sinh ra giằng co khổ sở. Thương yêu không đúng chỗ thì người đời chửi rủa, lên án và mình sẽ mang mặc cảm tội lỗi. Nhưng nếu hy sinh tình cảm để theo lý trí thì tim sẽ mang một vết thương lòng.Trong ba thứ này, Ý được xem như anh cả, Tình là anh thứ hai, còn Thân là em út. Ý và Tình thường hay chống nhau, còn Thân thì dễ dãi nghe lời hai anh, sai đâu làm đó, nhưng nhiều khi nó cũng cứng đầu khó dạy.
Phiền não phát xuất từ ba anh Ý, Tình, Thân hoặc nói cách khác là do vọng tưởng, vọng tình và vọng nghiệp sinh ra. Hai cặp ba này liên quan rất mật thiết. Vì Ý vô minh nên khởi vọng tưởng, vọng tưởng nếu không được hóa giải thì sinh ra vọng tình, vọng tình nếu không được hóa giải thì đưa đến tạo nghiệp khổ đau. Nhưng làm sao biết mình có vọng tưởng ? Làm sao ngưng được vọng tưởng ? Phải chăng mỗi khi có ý nghĩ khởi lên đều là vọng tưởng ?
Theo Thiền tông, hễ khởi ý niệm là vọng, dù đó là niệm xấu hay tốt. Nhưng ở đây chúng ta không nói chuyện Thiền mà nói chuyện đời sống hàng ngày, vì chúng ta không thể ngồi thiền nhập định suốt ngày, không nói năng hay tiếp xúc với trần cảnh. Ngày nào còn sống ngày đó chúng ta còn phải suy tư, nghĩ tưởng vì phải đi làm kiếm ăn nuôi gia đình. Hơn nữa chúng ta được cấu tạo bởi năm uẩn, trong đó có thọ, tưởng, hành, và thức nên suốt ngày chúng ta cảm thọ, tư duy, suy nghĩ, nhớ tưởng lung tung, đó là chuyện đương nhiên. Hàng ngày, chúng ta không thể không có Tưởng, không tưởng cái này thì tưởng cái kia. Tưởng rồi tin vào cái tưởng của mình gọi là tin tưởng . Những cái tưởng đúng hoặc gần với thực tại, với chân lý thì được gọi là chánh kiến, đạo đức hay minh triết vì nó đem lại an vui hạnh phúc, còn những cái tưởng méo mó sai lầm không đúng thực tại, tin vào đó sẽ đưa đến buồn phiền khổ đau thì gọi là vọng tưởng . Ngay cả những cái ta cho là sự thật hay chân lý rồi khư khư bám chặt vào đó thì nó cũng trở thành một loại vọng tưởng.
Chúng ta có thể sống trong cùng một môi trường, gia đình, xã hội, quốc gia nhưng trong thâm tâm mỗi người lại có riêng một cảnh giới khác. Vì mỗi chúng ta đều có những vọng tưởng, quan niệm, thành kiến, tập quán, và kinh nghiệm tình cảm cá nhân, tất cả những cái đó cộng lại tạo ra một thế giới riêng biệt trong tâm ý. Thế giới tâm ý từng người gồm có những con đường quen thuộc mà Ý của ta hay đi trong đó, với những quy tắc mà tình cảm và hành động của ta thường tuân theo.
Tâm của ta luôn vẽ vời ra đủ loại tranh, có cái đúng với thực tại, có cái méo mó và có cái hoàn toàn tưởng tượng không thực. Biết được mỗi chúng ta đều có một cảnh giới riêng. Nhờ hiểu được như thế ta sẽ không độc tài muốn mọi người phải tuân theo ý của mình, không buồn bực khi thấy người khác không hiểu mình, không vội nghe theo những tin đồn.

Thân Khẩu Ý


Ba điều đầu tiên trước khi khai mở tâm linh là: THÂN - KHẨU - Ý.
BA NGHIỆP CỦA THÂN: - Không làm hại (tổn thương cả về vật chất lẩn tinh thần) đến mọi người. - Không tham lam của người, - Không tà dâm
BỐN NGHIỆP CỦA KHẨU: - Không nói láo, không thêu dệt (chuyện có nói không, chuyện không nói có),
- không hai lưỡi,
- không dùng lời lẻ nặng nề làm người khác đau đớn,
- không nói độc dữ thô tục.
BA NGHIỆP CỦA Ý: - Không tham danh lợi và sắc giới - không hờn giận oán cừu - Không si mê ám muội.


Thứ Ba, 5 tháng 8, 2014

Học thiền theo Phật

Học thiền theo Phật ngóng Niết bàn
Say thiền say khí ngó phím loan
Chuyện viển vông đời tưng tửng khắp
Có không, không có ấy việc hoan

Tâm thiền chùng nhẹ bàn chân xuống
Thở cái lầm thân xác chìm loan
Suối lý trí trong thành hoa nở
Thiện mầm duyên ngộ lá hoa xanh

Học thiền theo Phật lấy chữ duyên
Tứ tượng là con của lưỡng nguyên 
Tâm mà đã khởi nhiều duyên khởi
Vô lượng kiếp kia vô lượng thiền

Thông điệp từ cõi vô hình

Thông điệp từ cõi vô hình là gì:
Cõi Vô hình dùng để chỉ thế giới phi vật chất gồm có các đấng Thần linh, Ma quỷ và Linh hồn. Thông điệp từ cõi vô hình là lời nhắn gửi của Thần thánh hay lời tiên báo của nhà Tiên tri. Không thể biết được tông tích của những người gửi thông điệp, nên chỉ căn cứ theo nội dung của lời nhắn để xét đoán theo lẽ thường, đạo lý hoặc giới luật để quyết định có thể tin được hay không.
Thông điệp được gửi đến dưới các hình thức như: Gián tiếp qua trung gian người khác, trực tiếp qua tiếng nói ở trong đầu, hay nhìn thấy và trao đổi thẳng với cõi Vô hình.  Mục đích của những thông điệp là nhằm vào một người cụ thể với mục đích để khảo sát, quan sát trình độ nhận thức của họ.
Tâm thức khi tiếp nhận thông điệp từ cõi vô hình:
1.     Phải hành thiện thật lâu để mở tâm, rồi sẽ đến mở trí tuệ để am hiểu về các thông điệp.
2.     Cứ tin vào cái tốt và hết lòng hành thiện thì sẽ tìm được đường đi đúng.
 Khi đã nhất tâm hành thiện thì ai rồi cũng sẽ đắc đạo, ai cũng sẽ được về với ánh sáng tối thượng, chỉ có khác là kẻ đi mau, người đi chậm mà thôi.
3.      Khi gặp thử thách, nên nhớ rằng cái may mắn hay vất vả của đời này, kiếp này là nhờ sự khó nhọc của ta từ các kiếp trước cho nên phải cố gắng đừng từ bỏ con đường đã chọn.
4.     Hết sức cảnh giác với các thông điệp có tính cách cá nhân, có tính khen tặng, tâng bốc.
5.       Phải suy nghĩ, phân tích, cân nhắc, bình tĩnh khi nhận thông điệp. Nhớ rằng ta không phải là một siêu nhân. Hành động vô lý, thiếu suy nghĩ chính là tai họa đó .
6.       Phải biết lý luận, biết nghi ngờ để khám phá ra sự thật. Đừng sợ khi bị hăm dọa bởi vì hành động vô lý, thiếu suy nghĩ mới thật sự là tai họa. Đây là thái độ tĩnh tín cần thiết để vượt qua mọi thử thách của những thông điệp từ cõi Vô hình.



Thứ Tư, 30 tháng 7, 2014

Bàn về Thần thông

Theo http://vi.wikipedia.org, Thần thông là sức mạnh tâm linh, đạt được do thiền định hay do tu tập một pháp môn nào đó. Khi có thần thông thì ý thức quyết định vật chất, thần thông cao cường có thể tự tạo ra một cõi không gian khác theo ý mình.  Thần thông đầy đủ nhất là lục thông, đó là: Thiên nhãn thông : Tăng khả năng nhìn của mắt, không bị trở ngại bởi khoảng cách, chướng ngại vật, thậm chí còn nhìn xuyên thời gian, nhìn thấy những sinh vật ở thế giới khác; Thiên Nhĩ Thông: Tăng khả năng nghe của tai, không bị trở ngại của ngôn ngữ, giống loài, có thể nghe được mọi âm thanh trên thế gian, hiểu được tiếng muôn loài; Tha Tâm Thông: Khả năng biết được suy nghĩ của kẻ khác; Túc mệnh thông: Khả năng nhìn thấy được trăm ngàn kiếp quá khứ của mình và người khác; Thần túc thông: Khả năng di chuyển không hạn chế: phi thân, di chuyển tức thời. Thậm chí còn có thể tàng hình, hiện thân to, nhỏ tùy ý; Lậu tận thông: Khả năng làm chủ bản thân tuyệt đối, ý nghĩ được kiểm soát, không còn vọng tưởng, không còn nghi ngờ, không bị nhiễm ô dù trong hoàn cảnh nào, tâm thức tĩnh lặng, xóa bỏ mọi nghiệp chướng. Người đạt Lậu Tận Thông sau khi chết sẽ không còn luân hồi sinh tử, sẽ ở trong một trạng thái vô cùng trong sáng, thoải mái, mà Phật giáo gọi là Niết bàn. Theo Phật giáo, hành giả muốn có Thần Thông có thể theo các cách: Nhờ sức mạnh của ý muốn tư tưởng. Nhờ vào sức tinh tấn nỗ lực tu tập. Nhờ sức mạnh của tâm niệm hoặc nhờ sức mạnh tư duy theo Phật lý.
Một câu hỏi đặt ra là: Tác dụng của thần thông là gì ?
          Khả năng của các nhà ngoại cảm hiện nay có thể xem như là một phần nhỏ của Thiên nhãn thông, Thiên nhĩ thông và Tha tâm thông. Nhà ngoại cảm sử dụng khả năng “thiên nhãn thông” của mình để tìm kiếm và phát hiện hài cốt, tìm kiếm khoáng sản, thăm dò lòng đất (ngành mỏ-địa chất), khả năng khám, chữa bệnh (ngành y khoa) v.v….

Vậy thần thông có bị giới hạn gì không?
          Thần thông không có khả năng giải trừ nghiệp lực mà con người đã tạo ra do hành động vô minh tham lam, sân hận trong cuộc đời. Thần thông không cứu được nghiệp ác của người thân, không chi phối được nghiệp lực. Thần thông không đưa người đến sự an lạc vĩnh viễn. Vậy thì, nên nhận thức rằng, phép thần thông không phải là một pháp lực vạn năng.
Bài học 
          Chúng ta phải luôn tỉnh táo trên con đường tu tập. Trong quá trình tập luyện, sẽ được chứng nghiệm các hiện tượng, thấy các ấn chứng. Nhưng chỉ coi đó là phương tiện trên con đường chúng ta tu tâm. Những khả năng đặc biệt không phải là mục đích tập luyện  mà chỉ là công cụ giúp ta tìm lại được chính mình, làm cho tâm chúng ta thanh thản hơn, đem lại hạnh phúc cho mọi người có cuộc sống an lạc và lành thiện.